ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ KHÓA SINH VIÊN Y50
Đoạn hồi ký kể về hành trình của các sinh viên khóa Y50 của Trường Đại học Y Hà Nội lên chiến trường phục vụ kháng chiến chống Pháp, vừa học tập vừa tham gia cứu chữa thương binh. Khi chiến dịch mở màn tại Điện Biên Phủ, họ cùng lực lượng quân y tiền phương tổ chức các đội điều trị, phẫu thuật trong điều kiện chiến trường ác liệt, dưới sự hướng dẫn của các thầy thuốc như Tôn Thất Tùng và Vũ Đình Tụng. Những trải nghiệm trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã trở thành “trường học lớn”, rèn luyện thế h
Từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Giáo sư Hồ Đắc Di và Giáo sư Tôn Thất Tùng đã di chuyển trường Đại học Y Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, nhiều khóa sinh viên đã tiếp tục học tập. Nhưng tới ngày 1 tháng 5 năm 1950, khóa Y15 hay còn gọi là khóa Y50, mới được tập trung, 40 sinh viên đã tốt ngiệp trung học chuyên khoa, về học năm thứ nhất để đào tạo cán bộ cho tương lai kết hợp với phục vụ kháng chiến. Cả lớp được học một chương trình đặc biệt về xử lý các vết thương chiến tranh, dự phòng điều trị sốt rét và các bệnh nội khoa thông thường.
Ngày 1 tháng 1 năm 1951, tất cả nhập ngũ thành sinh viên y, 10 người theo đội điều trị, 5 người “ra mặt trận” Hồng Quảng, đường số 18, số còn lại được phân công vào các bệnh viện và đội điều trị quân đội.
Với phương châm học kết hợp với hành, nhà trường gắn với chiến trường, đến tháng 10 năm 1952, cả lớp lên đường phục vụ chiến dịch Tây Bắc.
Khi chiến dịch Trần Đình (bí danh Điện Biên Phủ trong chiến dịch) bắt đầu mở, trung đoàn chúng tôi được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ. Trung đoàn trưởng Văn Giáo chỉ thị cho tôi làm nhiệm vụ Ban Quân y tiền phương của trung đcàn.
Chúng tôi vượt sông, tiến lên Sơn La, đi Lai Châu, trên những con đường rộng còn tươi màu đất mới. Trên đường rầm rập bộ đội, dân quân và xe ô tô kéo pháo. Một cảm xúc mãnh liệt đến với chúng tôi, vì từ nhiều năm nay ở Việt Bắc chỉ nhìn thấy những con đường cái lớn được cắt ngang bằng những con hào, để ngăn xe cơ giới của địch, mà nay chúng ta lại được làm chủ những con đường cái lớn thế này.
Nhưng khi tới ngã ba Cò Nòi, nơi gặp nhau của những trục đường từ hậu phương tới, và từ đó một con đường độc đạo dẫn đến Điện Biên Phủ, phải qua đèo Pha Đin cao hơn 1.000 mét và dài trên 30km thì đã thấy chiến tranh thật sự. Hàng ngày các loại máy bay của địch quần thảo tại đây: máy bay B-26, máy bay khu trục hải quân và cả những chiếc C.119 to đùng. Chúng thả xuống đoạn đường này hàng trăm quả bom các cỡ, bao gồm bom phá, bom nổ chậm và cả bom bươm bướm - một loại bom mẹ khi nổ sẽ tung ra nhiều quả bom con mắc vào cành cây và rải rác khắp nơi. Nhiều đoạn đường mới mở đã biến đi dưới hố bom, các đồi xung quanh chỉ còn màu đất đỏ. Công binh và dân quân phải sửa đường cho xe pháo. Nguy cơ rình rập khi đào bới bom nổ chậm và khi lấy sào gậy khua và cả ném đá để kích thích bom bươm bướm.
Trung đoàn 77 được lệnh tạm dừng tại đây, để cùng với công binh sửa đường. Tôi hướng dẫn lại cho quân y các tiểu đoàn về các bài huấn luyện cho bộ đội tự cứu và tập cứu trong các tình huống bị đá đè gãy chi, và nhất là bị sức ép khi bom nổ. Chiều đến, bộ đội ra mặt đường, tổ quân y trung đoàn với túi thuốc cấp cứu và bó nẹp trên vai, vừa đi vừa chạy dọc theo tuyến đường để cứu chữa cho thương binh tới sáng ngày sau. Cuối tháng 3, sau chiến thắng Him Lam, đồi Độc Lập và Bản Kéo, Trung đoàn được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ.
Trong những ngày chiến dịch, khoảng 20 sinh viên khóa 50 đã có mặt ở Điện Biên Phủ: sinh viên Nguyễn Quang Long ở đội điều trị 10 ở Đại đoàn công pháo 351, Phan Chúc Lâm và Tạ Long ở Đại đoàn 308, Đoàn Bá Thả ở Đại đoàn 312, Nguyễn Cảnh Cầu ở Đại đoàn 316, Phạm Từ Dương và Phạm Ngọc Phú ở đội điều trị 2, Phan Ngọc Ngoạn ở Trung đoàn 66 - Đại đoàn 304 (đồng chí Ngoạn được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba vì tổ chức nhân viên quân y và thương bệnh binh chiến đấu thắng lợi ngăn chặn một mũi thăm dò của địch).
Cùng lúc này nhiều bạn sinh viên Y50 ở các chiến trường phối hợp như Lê Minh và Phi Văn Ngạc ở địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, Hà Văn Ngạc ở đội điều trị 7 Thượng Lào. Một tin vui với chúng tôi là ngày 3 tháng 4 năm 1954, Giáo sư Tôn Thất Tùng, bác sĩ Vũ Đình Tụng và bác sĩ Nguyễn Dương Quang đã có mặt ở Điện Biên Phủ. Thầy Tùng với tài phẫu thuật của mình đã giúp điều trị nhiều trường hợp khó khăn, nhất là các vết thương sọ não. Tại các đội điều trị, nơi thầy trò chúng tôi làm việc có các hầm mổ, tường rất phẳng, sàn lát bằng gỗ, được căng vải dù, mùi ête thơm dịu, phẫu thuật viên và y tá mặc áo blu trắng mổ xẻ dưới ánh sáng của các đèn mổ chạy bằng đynamô xe đạp. Thương bệnh binh được nằm trên các giường đất phẳng phiu trải vải dù, tại các ngách hầm sạch sẽ. Cảnh tượng đó rất tương phản với khu vực quân y của địch: Thương bệnh binh chật cứng như lèn, trong những căn hầm hôi thối đầy bùn nhão và ruồi bọ.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là trường học lớn, đã rèn luyện chúng tôi tinh thần sáng tạo, ý chí quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn học tập để phục vụ nhân dân, phục vụ quân đội, giải phóng Tổ quốc, giải phóng đồng bào.
Cho tới ngày nay, lớp tôi đã có 2 tiến sĩ khoa học, trên 10 phó tiến sĩ, 10 giáo sư, 5 phó giáo sư, 5 viện trưởng các chuyên ngành, chủ tịch Hội tim mạch, chủ tịch Hội thần kinh toàn quốc, nhiều chuyên viên đầu ngành y tế và quân y chủ nhiệm nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ, tác giả nhiều công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí y học trong nước và Liên Xô (cũ), Đức, Ba Lan, Nhật Bản... Và cả tổ chức năng lượng nguyên tử thế giới.
Chúng tôi cùng trở thành những người thầy hướng dẫn tham gia vào nhiều hội đồng chấm luận án tiến sĩ và thạc sĩ cho nhiều lớp nghiên cứu sinh trong cả nước.
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tôi được lệnh hộ tống một số thương bệnh binh bằng ô tô về Yên Bái. Con đường trở về yên tĩnh, ngày đi đêm nghỉ, khắp nơi vang tiếng hát ca và dạt dào niềm vui chiến thắng của nhân dân và quân đội.
Trong cuộc đời phục vụ quân đội, giảng dạy đại học nghiên cứu khoa học, tôi đã được thưởng nhiều huân chương, huy chương. Nhưng tôi vẫn thích nhất là chiếc Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” xuân 1954, có quân kỳ “Quyết chiến Quyết thắng”. Hòa bình lập lại, tôi đã đeo chiếc Huy hiệu này trên áo quân phục trong lễ cưới của mình. Tôi cũng đã đeo chiếc Huy hiệu này trên áo quân phục trong suốt thời gian học tập ở Học viện Quân y Lêningrat, Liên Xô (cũ). Năm 1986, được sự đồng ý của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô - tôi đã tặng một Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” (do sứ quán cấp thêm) cho Viện Bảo tàng lịch sử Học viện Quân y Kirov Lêningrat (nay là St.Pétersbourg). Bạn tổ chức tiếp nhận rất long trọng và trưng bày Huy hiệu chiến thắng Điện Biên Phủ của chúng ta bên cạnh các Kỷ niệm chương chiến thắng của các học viên Liên Xô từng tham gia chiến tranh vệ quốc vĩ đại, giải phóng loài người khỏi thảm họa phát xít.



