Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ TÌNH ĐOÀN KẾT ĐẶC BIỆT VIỆT - LÀO

Đoạn trích là những dòng ký ức sâu sắc về nhiệm vụ thầm lặng nhưng quan trọng của đại đội trinh sát đặc biệt thuộc Bộ Tổng tham mưu tại mặt trận Hồng Cúm và Thượng Lào. Tác giả đã tái hiện chân thực công tác vây lấn, bắn tỉa và nghi binh đầy mưu trí để hỗ trợ bộ đội đào hào khép chặt vòng vây quân Pháp, cũng như cuộc truy kích nghẹt thở quân GML tại đèo Tây Trang. Đặc biệt, phần sau của hồi ức mở ra một không gian đầy nhân văn về tình đoàn kết quốc tế tại Luang Prabang, nơi bộ đội Việt Nam dùng

Lai Châu04/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 400, Trung đoàn 9, Đại đoàn 304 nên được cử làm phái viên tác chiến của Bộ, xuống theo dõi tác chiến của Đại đoàn 304 chiến đấu ở khu vực Hồng Cúm, phía nam Mường Thanh.

Tôi còn được giao trực tiếp chỉ huy một đại đội trinh sát đặc biệt của Bộ với trang bị tiểu liên đầy đủ, có thêm 1 khẩu cối 60 ly, 3 khẩu trung liên và một đài thông tin liên lạc trực tiếp với Bộ.

Sau chiến dịch giải phóng Tây Bắc cuối năm 1952, tôi cũng đã trực tiếp chỉ huy đại đội trinh sát này sang chuẩn bị chiến trường Sầm Nưa (Thượng Lào). Đại đội bố trí bám sát địch ở khu vực sân bay Noọng Khang và thị xã Sầm Nưa, để tiến hành chiến dịch giải phóng Sầm Nưa, Thượng Lào năm 1953.

Lần này, chúng tôi cũng bố trí trinh sát bám sát địch xung quanh sân bay Hồng Cúm và cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Khi phương châm chiến dịch thay đổi, từ “đánh nhanh, thắng nhanh”, sang “đánh chắc, tiến chắc”, Đại đoàn 308 được lệnh cơ động sang Thượng Lào; đại đội trinh sát chúng tôi cũng được lệnh đi cùng đại đoàn sang nắm tình hình địch và nghiên cứu bố trí lực lượng ngụy quân Lào dọc sông Nậm U, Mường Ngòi, Nậm Bạc (đông bắc Luang Prabang).

Khi Đại đoàn 308 bí mật rút về chuẩn bị xây dựng trận địa ở phía tây Mường Thanh, đội trinh sát cùng rút về vị trí cũ bố trí bám địch xung quanh cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Là phái viên tác chiến của Bộ, tôi theo dõi tác chiến của Đại đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 66 tác chiến ở Trung Lào), do đồng chí Chính ủy Lê Chưởng và đồng chí Tham mưu trưởng Đại đoàn Nam Long chỉ huy. Cứ mỗi buổi tối, tôi cùng Ban chỉ huy Trung đoàn 57 (do đồng chí Nguyễn Cận - Trung đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Đan - Trung đoàn phó), đi đôn đốc kiểm tra việc xây dựng trận địa tấn công ở phía đông; và sang Trung đoàn 9 (đồng chí Trần Thanh Từ làm Trung đoàn trưởng) xây dựng trận địa tấn công bao vây phía tây cụm cứ điểm Hồng Cúm.1

Đặc biệt, có những ngày đêm, chúng tôi đi theo giao thông hào lớn chia cắt khu vực Hồng Cúm và nam Mường Thanh để kiểm tra việc đào giao thông hào có đúng với kích thước bề cao và rộng theo quy định không, cách 5-6 mét phải đào một hầm ếch ở chân giao thông hào để tránh bom và đạn pháo cối của địch. Còn đại đội trinh sát của Bộ thì bố trí bám địch cả đêm lẫn ngày ở xung quanh cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Ban đêm, đại đội trinh sát thỉnh thoảng bắn một vài quả cối, một vài loạt trung liên để thu hút sự chú ý và hỏa lực của địch về phía mình, nghi binh cho bộ đội đào giao thông hào và xây dựng trận địa bao vây tiếp cận địch.

Đồng chí Chính ủy Lê Chưởng còn giao cho tôi lựa chọn các chiến sĩ của đại đội trinh sát Đại đoàn 304 và của Bộ, tổ chức các tổ “dũng sĩ” ban ngày bám sát hàng rào cứ điểm, bắn tỉa quân địch, thu dù máy bay địch thả rơi ra ngoài hàng rào, gồm các thùng đồ hộp, đủ các loại thực phẩm, về “tiếp tế” một phần cho quân ta.

Khi cụm quân địch ở Mường Thanh sắp thất thủ và chuẩn bị rút chạy, quân Pháp tổ chức và điều động một binh đoàn cơ động quân ngụy Lào gọi là GML (Groupement Mobile Laos), có những tên chỉ huy người Pháp vượt sông Mường Khoa sang đèo Tây Trang để tiếp ứng và đón quân địch ở Điện Biên Phủ rút về Thượng Lào. Được lệnh Bộ, đại đội trinh sát chúng tôi đưa bộ phận lớn lên chốt ở đèo Tây Trang. Đến khi quân địch ở Hồng Cúm rút chạy, hai Trung đoàn 57 và 9 của Đại đoàn 304 truy kích tiêu diệt quân địch ở Hồng Cúm, binh đoàn cơ động ngụy Lào (GML) bị chặn ở đèo Tây Trang cũng rút chạy về Lào. Đại đội trinh sát được lệnh Bộ truy kích quân GML vượt sông ở Mường Khoa, qua một dãy núi đến một con suối, gặp một bộ phận của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 148 do đồng chí Hoàng Lê chỉ huy.1

Truy kích địch qua đèo Calăngtap thì chúng tôi được lệnh quay trở lại Điện Biên Phủ gặp đồng chí Trần Lương - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Cao Văn Khánh - Phó Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, được Tổng Quân ủy giao ở lại giải quyết chiến trường và trao trả thương binh để Pháp chở trực thăng về Viêng Chăn. Vào hầm chỉ huy cũ của tướng Đờcátxtơri, tôi nhận lệnh cùng đại đội trinh sát, được tăng cường thêm đồng chí Thận (Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn trinh sát của Bộ) làm phó, chúng tôi sang lại Thượng Lào chuẩn bị chiến trường để giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào. Để phát huy thắng lợi Điện Biên Phủ, ta và bạn dự định sẽ mở chiến dịch giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào để nối liền hai vùng giải phóng Bắc Lào của bạn với vùng Điện Biên Phủ, Lai Châu của ta. Đồng thời, để phát huy thắng lợi sau chiến dịch giải phóng Tây Bắc năm 1953, ta và bạn đã thống nhất mở chiến dịch Sầm Nưa để nối liền hai vùng giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào của bạn với vùng Mộc Châu, Sơn La, Tây Bắc của ta.

*
* *


Đại đội trinh sát nhận nhiệm vụ mới!

Sau khi được trang bị đầy đủ lương thực (chủ yếu là muối), mỗi chiến sĩ mang nặng “bao tượng gạo”, và nhiều đồ hộp chiến lợi phẩm, trở lại vượt đèo Tây Trang, Mường May, Mường Khoa tiến về hướng Luang Prabang. Khi hành quân đường bộ vượt qua nhiều đèo, nhiều suối; khi hành quân đường sông Nậm U theo các thuyền do dân Lào chở, chúng tôi tiến về Mường Ngòi, Nậm Bạc, vừa hành quân vừa tác chiến với những tốp tàn quân hoặc toán biệt kích lẻ tẻ dọc đường. Nhân dân Lào ở các bản dọc sông Nậm U rất tốt, có truyền thống cách mạng (là quê hương của Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, một lãnh tụ Pathét Lào), cho nên khi bộ đội hành quân qua các bản thì được dân đón tiếp vui vẻ, có nơi cho thêm gạo nếp, rau và chuối, nhiệt tình cho bộ đội mượn thuyền và lái thuyền chở bộ đội qua sông. Cũng nhờ nhân dân vùng này rất tốt với bộ đội Việt Nam, nên trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi Đại đoàn 308 được lệnh cơ động gấp sang Thượng Lào không có chuẩn bị trước về hậu cần đã được nhân dân Lào tiếp tế một phần, nên Đại đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ.

Đến Mường Ngòi, Nậm Bạc, đại đội trinh sát không cơ động tiếp theo dọc sông Nậm U nữa, để giữ bí mật. Được sự giúp đỡ của cán bộ tình nguyện Việt Nam sang xây dựng cơ sở ở Lào, chúng tôi quay sang hướng đông, hành quân dọc sông Nậm Xeng, Nậm Suông, qua các bản Xốp Vi, Xốp Chiệc, Phon Xay. Trên đường hành quân, qua các bản có nhiều địch thì vòng tránh; gặp những toán nhỏ thì đánh để mở đường.

Đại đội trinh sát vượt qua các bản người Lào Lum (sống hai bên bờ sông) có nhiều ruộng bậc thang trồng lúa, có thuyền về các thị trấn, thị xã buôn bán, nên đời sống sung túc hơn, văn minh hơn. Các cô gái Lào trắng trẻo với các váy lụa đen, áo màu may kiểu “vai bồng”, với giải cúc bằng bạc trắng, hiểu biết nhiều về bộ đội Việt Nam nên niềm nở và ủng hộ gạo, nếp, gà, rau. Dân bản cho bộ đội ngủ trong các nhà sàn bằng gỗ. Hành quân tiếp leo lên vùng lưng chừng núi, là các bản người Lào Thênh, ít suối, đất khô cằn, nhà sàn nhỏ bằng tre nứa, ban đêm bộ đội phải căng nilông trải lá ngủ trên các đồi con, ngoài rừng. Dân hiểu biết ít về bộ đội Việt Nam, đời sống nhân dân khó khăn hơn, nên bộ đội phải san sẻ một vài lon muối cho dân nghèo.

Hành quân tiếp lên đỉnh các dãy núi đá, là các bản Mèo. Người Mèo (Lào Sủng) ở đây “tự hào là đàn anh” vì ở cao trên “đầu mọi người”.

Họ sống trong các nhà “trệt” (không có sàn) thưa thớt xa nhau, xen kẽ nhiều nương trồng cây thuốc phiện, đời sống khá hơn người Lào Thênh. Trong nhà có nhiều lợn, gà, ít cây cối. Đại đội leo lên một bản người Mèo trên đỉnh Luang Prabang. Bản này tương đối lớn, nhưng không có một ai tại nhà. Hình như nghe bóng dáng bộ đội Việt Nam tới, họ trốn vào các hang đá xa nhà.

Ở đỉnh núi này rất tốt cho việc tiếp cận thị xã Luang Prabang, lại có nhiều hang, hốc đá và các lùm cây, tiện cho việc quan sát và che giấu. Bộ đội phải “hạ ba lô dừng lại ngoài bản, chúng tôi liền cho mở đài thông tin, bắt sóng phát thanh có nhạc Lào (tuy không biết là nhạc gì, bài hát gì...). Tiếng nhạc vọng vào núi đá vang lên trong không khí vắng vẻ. Nghe cũng vui tai, nên sau một lát thấy lẻ tẻ một vài em bé người Mèo, đeo vòng bạc to ở cổ, lò mò tới xem. Lúc đầu còn đứng xa, thấy bộ đội Việt Nam vui vẻ vẫy tay, các cháu dần dần lại gần nghe đài và nhạc. Được anh em chiến sĩ cho mỗi em một ít kẹo chiến lợi phẩm và một mảnh vải dù lụa đỏ đeo vào cổ (trẻ con người Mèo rất thích khăn quàng đỏ) nên các em mạnh dạn hơn, vui hơn và dần dần về đông hơn.

Tiếp sau các em nhỏ là các cô gái Mèo quần áo cũng tươm tất hơn các cô “Lào Thênh”, ở trên núi cao khí hậu lạnh nên hai má đỏ hồng, cổ đeo vòng bạc lớn, cả cổ tay, chân đều đeo vòng bạc nhỏ. Lúc đầu còn bẽn lèn nấp sau các tảng đá lớn hoặc góc nhà. Nhưng sau thấy bộ đội Việt Nam hiền từ vui vẻ bế các em nhỏ vào lòng vừa vỗ tay vừa hát theo tiếng nhạc, các cô gái Mèo cũng từ từ tiến lại gần. Các chiến sĩ cũng tặng mỗi cô một mảnh vải dù lụa đỏ. Thấy cô này được tặng cô khác cũng mạnh dạn tiến lên tủm tỉm cười để nhận quà! Thế là bộ đội đã gây cảm tình được với hai “thành phần đại diện” đầu tiên của bản Mèo. Tiếp đến các “bà mế” cũng về bản, trên lưng vai gùi bẹ ngô hoặc bó củi khô, thấy bộ đội vui vẻ với các em nhỏ và cô gái người Mèo, lúc đầu còn bỡ ngỡ, nhưng rồi cũng lại ghé ngồi xem, móm mém ăn bánh lương khô của bộ đội tặng.

“Thành phần thứ tư” trở về, tay cầm dao rựa là các chàng thanh niên Mèo, hơi khó tính, nghe tiếng nhạc và thấy dân Mèo ngồi gần bộ đội Việt Nam, cũng ghé vào xem. Mặt lạnh như tiền, không biết có phải vì “ghen” với cô gái Mèo ngồi gần bộ đội Việt Nam không, lúc đầu còn đứng xa nhưng sau họ cũng tiến vào dần, xen lẫn với những người tới trước để nghe nhạc và các bài hát.

Các già làng, trưởng bản, những người đàn ông, chiều đến cũng về bản, nhưng không ra nghe nhạc. Chúng tôi phái cán bộ trung, tiểu đội vào trong bản tiếp xúc đưa thuốc lá, bánh lương khô, bánh quy chiến lợi phẩm mời các cụ và trò chuyện. Lúc đầu, thái độ họ dửng dưng, nhưng nét mặt dần dần dịu lại và cuối cùng cũng nhã nhặn đồng ý cho bộ đội vào nhà nghỉ.

Thế là đại đội trinh sát đã gây được cảm tình bước đầu của đủ “các thành phần”. Tình quân dân giữa bộ đội Việt Nam và nhân dân Lào nói chung và người Mèo ở đây nói riêng trở nên đầm ấm! Ôm các em nhỏ vào lòng, tôi cảm hứng chợt nghĩ ra mấy dòng thơ của người chưa hề biết làm thơ bao giờ:

“Chú từ Việt Nam vượt suối, băng đèo
Đến đây gặp cháu dân Mèo Mường Luông.
Chú với cháu không cùng dòng máu
Chưa hề gặp nhau, không cùng thứ tiếng
Gặp nhau sao quyến luyến lạ thường!
Phải chăng có một tình thương
Thương cùng cảnh ngộ chống phường thực dân,
Chú Pa thét, chú Việt Nam
Diệt thù giải phóng bản làng yên vui
Cho các cháu tung tăng múa nhảy
Cho lúa xanh phủ đầy nương rẫy
Việt - Lào sát cánh, nắm tay đời đời!”


Lúc đầu chúng tôi vào bản Mèo, không gặp dân nên nghĩ cách làm như thế để kéo dân về, vì nếu không có dân thì không thể đứng chân ở vùng này, một địa điểm rất thuận lợi để điều tra nắm địch, chuẩn bị chiến trường.

“Tiến hành chiến dịch phải có dân mới giành thắng lợi. Đi trinh sát chuẩn bị chiến trường ở đâu cũng phải dựa vào dân mới thành công!”.

Lúc đó, chúng tôi làm như vậy, không nghĩ là mình làm “công tác dân vận”. Sau này, khi đọc và tham gia ý kiến vào bản thảo “Đường lên cơ quan Tổng hành dinh” của tôi, đồng chí Thiếu tướng Đoàn Huyên, nguyên Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự, nhận xét: “Tôi đọc quyển hồi ký của anh, ở đoạn này rất cảm động! Vì tôi cũng đã có thời gian hoạt động ở Hạ Lào, hiểu một phần về phong tục tập quán và tình cảm của các bộ tộc Lào đối với quân tình nguyện Việt Nam. Mình thấy việc làm của các ông lúc đó rất hay! Làm công tác dân vận phải rất linh hoạt, phù hợp tâm tình, hoàn cảnh, bằng hành động thiết thực không phải bằng lời nói suông!”.

Anh em được vác ba lô vào nghỉ trong các nhà dân, nơi 4-5 người, nhà đông nhất được 10-15 người.

Đêm đến, tuy là mùa hạ nhưng ở trên đỉnh núi cao, ban ngày nóng bức, ban đêm sương tỏa xuống giá lạnh, nếu không được vào nghỉ trong nhà, mà phải nằm ngoài các tảng núi đá, thì chắc không thể ngủ được, mà lại có người phát ốm.

Tối đó, chúng tôi đốt lửa trại, mở đài phát thanh nhạc Lào, các cháu bé, các cô gái và các chàng trai người Mèo thổi khèn, chiến sĩ Việt Nam và thanh niên nam nữ Mèo tay cầm tay nhảy “lăm vông”, đi vòng quanh đống lửa trại, các bà mế thì ngồi ngoài xem.

Lửa trại tàn dần, sương mù xuống càng dày đặc. Gió lạnh thổi về, mọi người vui vẻ trở vào bản. Các cháu tuy lạnh nhưng vẫn còn luyến tiếc, chần chừ chưa muốn về nhà.

Đêm đó, Ban chỉ huy đại đội chúng tôi ở trong nhà một “già làng”. Ông già nằm trên một tấm phản gỗ đặt sát đất, hút thuốc phiện bằng một tẩu dài, hơ thuốc trên ngọn đèn dầu lạc.

Ở góc nhà, một anh thanh niên da ngăm đen trần truồng (có thể người Lào Thênh) đạp một chày giã ngô, một người đàn bà chỉ mặc chiếc váy, ngực và lưng trần (cũng có thể là người Lào Thênh) bàn tay đảo ngô trong cối. Thấy cảnh chướng mắt, đồng chí Nam - Chính trị viên đại đội cứ băn khoăn lưỡng lự mãi. Anh lấy ra một chiếc quần đùi và một áo sơ mi cộc tay vải kaki của lính Pháp ở Điện Biên Phủ (anh em trinh sát vẫn mang theo lót vai vác đạn) mang lại mặc cho chàng “nô bộc” trần truồng đó, anh ta giọng ngọng trầm trồ cười. Ông “già làng” ngoảnh cổ lại, thản nhiên nhìn cảnh đó, rồi lại tiếp tục hút thuốc phiện, không có phản ứng gì, không tỏ ra bất bình, tự ái.

Ngày hôm sau, chủ nhà quẳng cho “nô bộc” đó mấy cái áo quần rách của người Mèo, nhưng anh ta không chịu thay quần áo mà cứ mặc bộ quần áo đồng chí Nam cho tối hôm trước.

Những ngày sau, Đại đội trinh sát ở trong các nhà bản Mèo được dân Mèo cho thịt lợn, rau cải Mèo và các bông bắp vàng, quả su su (trồng trên đỉnh núi cao giá lạnh nên quả rất to) anh em bộ đội cho dân muối. Tin đồn lan truyền, dân Mèo các bản khác và các dân “Lào Thênh” ở dưới cũng lũ lượt mang ngô, rau, thịt lợn lên đổi lấy muối (là món hàng chiến lược của bộ đội mang theo).

Có địa bàn đứng chân, trên dãy núi bản Mèo, nhìn xuống thị xã Luang Prabang rất rõ. Chúng tôi đặt “cứ trinh sát” ở đó, xuống lưng chừng núi đặt “đài quan sát”, tìm được một vị trí có hang, đã dự định đặt “chỉ huy quan sát” của chiến dịch ở đó rất tốt, quan sát rất rõ các ngôi nhà và từng người đi lại trong thị xã. Ban đêm các toán trinh sát đột nhập thị xã, vẽ sơ đồ bố trí của địch. Chúng tôi báo cáo qua điện đài về Bộ Tổng tham mưu là công tác nắm tình hình địch đã cơ bản xong và gặp nhiều thuận lợi, đề nghị Bộ cử đoàn cán bộ các đơn vị sẽ tham gia chiến dịch, sang nghiên cứu chiến trường.

Bất ngờ một buổi sáng, tôi nhận được điện của đồng chí Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Tác chiến: “Ta không mở chiến dịch giải phóng Luang Prabang Thượng Lào nữa, vì hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ đã được ký kết, lệnh cho đại đội trinh sát trở về Bộ và Khánh cũng về Cục để tham gia vào đoàn “tiền trạm” cán bộ Bộ Tổng tham mưu đi trước về chuẩn bị tiếp quản Thủ đô Hà Nội...”1.

Tôi họp Ban chỉ huy đại đội trinh sát phổ biến quyết định này. Mọi người sững sờ vừa mừng vừa tiếc! Mừng vì hòa bình sắp lập lại ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Nhưng rất tiếc là công tác chuẩn bị chiến trường đã được hoàn thành tốt đẹp. Nếu ta và bạn Lào tiếp tục mở chiến dịch này, thì nhất định sẽ giành thắng lợi. Một vùng giải phóng rất rộng lớn của đất nước Lào, từ đường số 7, bản Ban, Cánh Đồng Chum ra Xalaphukhum, đường 13, trở lên Sầm Nưa, Luang Prabang và cả Bắc Lào sẽ được giải phóng, liên hoàn với đất của ta, từ vùng tự do Thanh Hóa, Hòa Bình, Liên khu 3, nối liền với vùng giải phóng Tây Bắc và căn cứ địa Việt Bắc của Việt Nam.

Ban chỉ huy đại đội rút các tổ trinh sát hành quân trở về Việt Nam. Chia tay rời bản Mèo với sự lưu luyến của dân Mường Luông, nhất là các cháu bé. Các cô gái Mèo cứ đứng vẫy tay nhìn mãi, đại đội trinh sát đi xa dần theo đường hành quân cũ, xuống các bản người “Lào Lum” ở bờ sông Nậm Suông. Qua các bản làng người Lào, chúng tôi phổ biến Hiệp định ngừng bắn đã được ký kết, hòa bình được trở lại trên đất Lào và hình như cán bộ Pathét Lào cùng các cán bộ tình nguyện Việt Nam xây dựng cơ sở cũng đã phổ biến tin này, nên đến đâu cũng được dân Lào đón tiếp nồng hậu, ủng hộ nhiều gạo nếp, gà lợn, mà không yêu cầu bộ đội Việt Nam cho “muối” như khi hành quân lên đỉnh núi Luang Prabang. Tuy nhiên, anh em vẫn phát hết số muối còn lại cho dân nghèo ở các bản đi qua.

Trên đường về Việt Nam dừng chân nghỉ tại một bản người Lào trên sông Nậm Suông, thì một việc đau buồn xảy ra với đại đội! Đồng chí Thận - Tiểu đoàn phó tiểu đoàn trinh sát của Bộ, được tăng cường đi theo đại đội trinh sát, lúc lau súng tiểu liên của mình, vô ý bị “cướp cò” đạn xuyên qua cổ lên đầu chết tại chỗ. Cả đại đội và chúng tôi vô cùng thương tiếc một cán bộ dũng cảm, một đảng viên trung kiên, một người bạn chân tình, một đồng đội được tất cả anh em trong đại đội mến phục, đã đột ngột ra đi!

Thật đau đớn và tiếc thay! Đồng chí đã ngã xuống sau 9 năm chiến đấu gian khổ, trước ngày ngừng tiếng súng trên Tổ quốc Việt Nam thân yêu!

Đại đội trinh sát của chúng tôi và toàn thể dân Lào trong bản đã tổ chức truy điệu đồng chí trong niềm thương tiếc vô hạn! Sau lễ truy điệu, đồng chí Nam - Chính trị viên, đồng chí Lộc - Đại đội trưởng, 4 chiến sĩ và tôi cùng trưởng bản người Lào xuống một con thuyền độc mộc, bơi ngược dòng sông Nậm Suông. Trên bờ sông, anh em đại đội trinh sát và nhân dân Lào của bản rưng rưng nước mắt nhìn theo con thuyền độc mộc chở thi hài đồng chí Thận lên mai táng trên bờ tả ngạn sông Nậm Suông, gần chỗ mấy cán bộ Pathét Lào đã hy sinh trước đây.

Đến nay, hơn 50 năm đã trôi qua! Chúng tôi không ai có điều kiện trở lại vùng đất xa xôi hẻo lánh này của nước bạn để viếng mộ người đồng chí thân yêu. Nhưng chắc chắn “người xưa cảnh cũ” nay đã thay đổi nhiều, mà nếu được trở lại nơi đây thì thời gian, bão táp, mưa lũ đã xóa mất dấu vết nấm mồ trước đây đắp bằng đất, một cán bộ quân tình nguyện Việt Nam dũng cảm, một đảng viên trung thành của Đảng, một chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả của mình trên đất bạn.

Đồng chí Thận cũng như nhiều cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện khác của Việt Nam đã gửi thân mình mãi mãi trên đất bạn Lào, vun đắp thêm tình hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào mãi mãi thắm tươi, đời đời bền vững.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn