Diệp Ba – Từ Luật sư yêu nước đến Giám đốc Sở Công an Nam Bộ
Diệp Ba – Từ Luật sư yêu nước đến Giám đốc Sở Công an Nam Bộ
diệp Ba sinh 1916 tại làng Bình Phan, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (nay là thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình nông dân.
Mặc dù gia cảnh khó khăn, nhưng ông và người em sinh đôi là Diệp Tư, được gia đình cho đi học tại trường tiểu học ở quận lỵ Chợ Gạo. Sau đó, ông lần lượt thi đậu bằng Thành chung tại Trường Collège de Mytho (nay là Trường Trung học phổ thông Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Mỹ Tho) và bằng Tú tài toàn phần tại Trường Lycée Pétrus Ký (nay là Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 1934, ông thi đậu vào Trường Luật khoa và Hành chính (École de Droit et d'Administration) thuộc Viện Đại học Đông Dương đặt tại Hà Nội.
Trong thời gian học tại trường, đặc biệt là sau khi tốt nghiệp với tấm bằng Luật sư, ông tham gia tích cực vào các phong trào yêu nước chống Pháp.
Tháng 8-1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Mỹ Tho. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Nam bộ bùng nổ (23-9-1945), ông được chính quyền cách mạng bổ nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Mỹ Tho. Ngày 06-01-1946, ông được nhân dân tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa I (1946 - 1960) nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đơn vị tỉnh Mỹ Tho. Sau đó, ông ra Hà Nội, dự 2 kỳ họp Quốc hội. Tại Kỳ họp thứ nhất diễn ra vào tháng 3-1946, ông cùng với các đại biểu bỏ phiếu công nhận Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, bầu ra Ban Thường trực Quốc hội và Ban Dự thảo Hiến pháp. Tại Kỳ họp thứ hai diễn ra vào tháng 11-1946, ông và các đại biểu đã thảo luận, biểu quyết thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta và 01 Dự án Luật.
Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), ông trở về Nam bộ tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ năm 1948 đến năm 1954, ông được chính quyền kháng chiến bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Sở Công an Nam bộ. Trong khoảng thời gian này, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam bộ, ông cùng với tập thể Ban Giám đốc đã chi huy lực lượng công an Nam bộ kề vai, sát cánh với bộ đội và quần chúng nhân dân giữ vững an ninh, trật tự vùng tự do; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan trọng yếu của Ðảng, Nhà nước ở Nam bộ, căn cứ địa kháng chiến và tham gia các chiến dịch quân sự trọng yếu; đồng thời, phá tan các vụ án gián điệp do địch gây ra; trực tiếp chiến đấu, đánh vào vùng địch tạm chiếm, phá tề, trừ gian, diệt ác, góp phần cùng toàn Ðảng, toàn dân giành chiến thắng oanh liệt trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ lịch sử (7-5-1954).
Sau Hiệp định Genève (20-7-1954), ông tập kết ra miền Bắc, giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy Toà án Nhân dân tối cao, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao, Chánh án Tòa Hình sự 2 thuộc Toà án Nhân dân tối cao. Với tư cách là Đại biểu Quốc hội Khóa I, ông đã tham dự 9 kỳ họp của Quốc hội, từ Kỳ họp thứ 4 (3-1955) đến Kỳ họp thứ 12 - Kỳ họp cuối cùng của Quốc hội Khóa I (4-1960). Tại các kỳ họp, ông đã cùng với các đại biểu thảo luận, biểu quyết thông qua bản Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959, 14 Luật, bầu Ban Thường trực Quốc hội và phê chuẩn Hội đồng Chính phủ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng.
Năm 1967, do lâm trọng bệnh, ông qua đời tại Hà Nội.



