Khác

Điệp trùng yên ngựa trong ký ức người lính PHẦN 1

Từ ngàn đời nay, để sinh tồn, người Quảng Trị luôn biết cách tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. Nhưng núi rừng không chỉ che chắn, bảo vệ cuộc sống trước thiên nhiên khắc nghiệt, mà còn là những thành quách, những công trình quân sự tự nhiên giúp con người can trường trước mọi kẻ thù xâm lược.

Quảng Ninh02/04/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, núi rừng Quảng Trị là chiến trường ác liệt gắn với bao đời lính một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Trong số họ, có những cựu chiến binh như các ông: Vũ Viết Nhỉ (Sư đoàn 308), Lê Văn Chớ và Nguyễn Hữu Nhị (Sư đoàn 324)… mà tôi may mắn được gặp gỡ, để rồi gắn bó như những người thân yêu.

Chuyện trên cao điểm 235

Cựu chiến binh Vũ Viết Nhỉ, quê gốc Phú Thọ, năm nay hơn 80 tuổi, là lính trinh sát của Trung đoàn 36, Sư đoàn 308. Đời lính của ông hầu như gắn bó trọn vẹn với chiến trường Quảng Trị, từ mặt trận Khe Sanh năm 1968 cho đến chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972. Sau ngày đất nước hòa bình, với kiến thức và khả năng thông thạo địa bàn của một người lính trinh sát, ông Nhỉ được đơn vị phân công tiếp tục ở lại Quảng Trị để tìm kiếm, đưa đồng đội đã hy sinh về Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Đường 9 trước lúc tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc vào giữa năm 1979. Sau khi rời quân ngũ, hầu như năm nào ông Nhỉ cũng khăn gói về Quảng Trị.

Hơn 10 năm trước, chúng tôi tình cờ gặp nhau khi ông ngược lên cao điểm 235, về phía Bắc sông Ô Lâu, phía Tây Hải Lăng để tìm 3 đồng đội. Trong đó có liệt sĩ Nguyễn Mạnh Chất, quê ở Hà Nội, hy sinh vì bom B52 vào cuối tháng 10/1972. Hôm ấy, sau khi xác định địa hình, đứng trên cao điểm 235, ông đã nhìn rất lâu về phía cao điểm 367, đôi mắt xa xăm: "Chỗ yên ngựa nối với cao điểm 367, một số đồng đội của tôi đã ngã xuống…". Tháng Tư, nền trời xanh cao vời vợi, hoa mua tím ngắt cứ đong đưa trong gió. Giọng của ông thật nhỏ nhẹ nhưng không hiểu sao vẫn nghe rất rõ...

Lần đầu nghe ông nói về “yên ngựa”, tôi không khỏi tò mò. Thì ra, “yên ngựa” là khoảng địa hình chùng xuống giữa 2 đỉnh núi nối nhau-vốn là điểm dừng chân nghỉ ngơi của người lính sau khi vượt qua một đỉnh núi. Nhưng với ông Nhỉ, “yên ngựa” không chỉ là một thuật ngữ địa hình, mà còn là khoảng lặng đến khắc khoải, là nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi về những tháng năm tuổi trẻ và những người thân yêu đã nằm lại.

Hôm ấy ngồi trên cao điểm 235, ông Nhỉ kể cho tôi nghe về cuộc gặp tình cờ giữa ông và 2 cô gái thanh niên xung phong cũng ở chỗ yên ngựa giữa 2 ngọn đồi không tên: “Một cô bị sốt rét, người yếu lắm nên phải nhờ bạn dìu đi từng bước. Lúc đầu, chúng tôi cũng cố tình hành quân thật chậm để hỗ trợ 2 cô. Nhưng hôm sau vì nhiệm vụ nên phải đi nhanh, còn 2 cô nghỉ lại ở một binh trạm giữa rừng. Thế rồi 3 hôm sau, tôi tình cờ gặp lại một cô ở phía bờ Bắc sông Bến Hải. Khi tôi nhắc đến người bạn đồng hành, cô ấy chỉ im lặng ngoảnh mặt đi…”.

Giọng của ông vẫn cứ nhỏ nhẹ như sợ chạm vào câu chuyện cũ. Tôi chợt nghĩ, gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thời gian có thể xóa nhòa đi không ít buồn vui, nhưng với người lính trinh sát Vũ Viết Nhỉ, cuộc gặp ấy chính là "khoảng chùng" khắc khoải nhất trong ký ức đời lính.

Chuyến đi năm ấy, ông Nhỉ không thể tìm thấy đồng đội. Người em trai của liệt sĩ Nguyễn Mạnh Chất đành mang về 7 nắm đất ngay chỗ yên ngựa của cao điểm 235 để làm mộ gió cho anh, rồi thì thầm: “Anh Chất sẽ nằm cạnh mẹ và anh trai tôi hy sinh ở TP. Huế…".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn