ĐIỆP VIÊN X6 - DÒNG CHẢY THÔNG TIN MẬT VÀ NHỮNG DỰ BÁO LÀM THAY ĐỔI CỤC DIỆN
Để những cuộn phim chứa các bản kế hoạch tối mật và những trang phân tích chiến lược của Phạm Xuân Ẩn - điệp viên X6 đến được Trung ương Cục và Bộ Chính trị tại Hà Nội, một mạng lưới giao thông liên lạc huyền thoại đã vận hành bền bỉ suốt hàng chục năm ròng rã ngay giữa lòng vòng vây kiềm tỏa của địch. Đó là Cụm tình báo H63 do đồng chí Tư Cang (Nguyễn Văn Tàu) làm Cụm trưởng.

Căn cứ của Cụm tình báo H63 đóng tại vùng du kích “đất thép” Củ Chi, cách trung tâm Sài Gòn chưa đầy 50 cây số. Quy trình chuyển phát tài liệu được tổ chức chặt chẽ, chính xác và mưu trí tuyệt đối. Theo quy ước liên lạc, ký giả Phạm Xuân Ẩn lái xe dừng bên lề Chợ Cũ, vờ ghé sạp mua thức ăn cho chim cảnh. Ở đó, người giao liên đặc biệt Nguyễn Thị Ba trong vai một phụ nữ nghèo đã đợi sẵn. Một món “hàng” nhỏ được khéo léo thả vào chiếc rổ. Đến chiều, món "hàng" ấy đã an toàn vượt qua hàng chục đồn bốt, trạm gác để về tới căn cứ Cụm H63.
Những cuốn phim chụp tài liệu cơ mật được ngụy trang khéo léo thành nhân những chiếc nem chua, hay được nhét kín vào trong ruột bánh tét. Với những tin khẩn, mạng lưới sử dụng điện đài hỏa tốc mã hóa gửi thẳng về cho chỉ huy; còn những cuộn phim và tập tài liệu dày dặn thì được các chiến sĩ giao liên vũ trang chuyển gấp về Phòng Tình báo Miền ở chiến khu Tây Ninh.

Cụm tình báo H63 đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, năm 1971.
Để đối phó với mạng lưới mật vụ giăng đầy và sự săn lùng gắt gao của CIA cùng cơ quan an ninh đối phương, Cụm H63 tuân thủ nguyên tắc không vận hành theo những thói quen lặp lại. Giờ giấc giao nhận, địa điểm gặp gỡ, tín hiệu ám hiệu luôn được linh hoạt biến đổi. Nhờ sự mưu trí, kỷ luật thép và lòng quả cảm phi thường, suốt cả cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường dây giao liên tình báo kiên trung trong nội đô Sài Gòn và các ấp chiến lược vùng ven được bảo vệ an toàn, trọn vẹn cho tới ngày toàn thắng.
Với mưu trí, lòng dũng cảm của X6 và giao liên Cụm H63, dòng chảy thông tin từ Phạm Xuân Ẩn đã mang đến cho cách mạng nguồn dữ liệu chiến lược chuẩn xác và khá toàn diện. Trong giai đoạn 1960-1964, “Hai Trung” (Phạm Xuân Ẩn) đã cung cấp, báo cáo rất nhiều thông tin quan trọng về các động thái bên trong của chính quyền Sài Gòn và đế quốc Mỹ phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương.
Khi Mỹ triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, ồ ạt tăng viện trợ quân sự, đưa cố vấn vào miền Nam, nâng quân số quân đội Sài Gòn từ 17 vạn giữa năm 1961 lên 56 vạn vào cuối năm 1964, áp dụng các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 “ấp chiến lược” hòng tách dân khỏi lực lượng của ta, thì toàn bộ các kế hoạch Staley-Taylor rồi Johnson-McNamara đều đã nằm trên bàn làm việc của lãnh đạo cách mạng khi chúng còn là hồ sơ tuyệt mật đóng dấu đỏ. Từ đó, cơ quan đầu não của ta có cơ sở đánh giá chính xác tình hình địch, kịp vạch ra chiến lược, chiến thuật và tổ chức lực lượng bẻ gãy chiến lược chiến tranh của Mỹ.

Trận Ấp Bắc diễn ra ngày 2-1-1963. Ảnh tư liệu.
Chiến thắng Ấp Bắc lịch sử năm 1963 chứng minh quân dân miền Nam hoàn toàn có khả năng bẻ gãy các chiến thuật quân sự và vũ khí tối tân của Mỹ. Sau chiến thắng vang dội ấy, có hai người được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Chiến công: Một người là chỉ huy trực tiếp ngoài mặt trận; người còn lại chính là X6 - Phạm Xuân Ẩn, người đã phân tích cặn kẽ các học thuyết, cung cấp tài liệu về chiến lược, chiến thuật của đối phương giúp ta vạch phương án tác chiến chuẩn xác.
Bước sang giai đoạn “Chiến tranh cục bộ”, khi quân đội viễn chinh Mỹ trực tiếp can thiệp, nguồn tin của Hai Trung một lần nữa lập công xuất sắc. Ngay từ năm 1964, ông đã gửi báo cáo cảnh báo chính xác về việc Mỹ sẽ đổ quân ồ ạt vào miền Nam. Đúng như dự báo, tháng 3-1965, lữ đoàn thủy quân lục chiến đầu tiên của Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, nối tiếp là Sư đoàn Bộ binh số 1 (“Anh Cả Đỏ”) đổ bộ xuống Bến Cát, rồi Sư đoàn Bộ binh số 25 (“Tia chớp nhiệt đới”) tràn vào Đồng Dù. Tất cả các chiến dịch quân sự lớn, kế hoạch tái chiếm vùng giải phóng, kế hoạch xây dựng quân đội Sài Gòn đều được ông báo trước với những tài liệu nguyên bản và cả những phân tích của ông về ý đồ của địch. Về việc này, ông nói: “Tôi phân tích học thuyết, cung cấp các tài liệu về chiến lược, chiến thuật, các kế hoạch và những thông tin liên quan về Chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Trên cần cái gì, tôi đáp ứng ngay cái đó. Chỉ có thế thôi”.

Đồng chí Phạm Xuân Ẩn (bên phải) phỏng vấn tướng ba sao Tư lệnh vùng 3 của ngụy trong một cuộc hành quân, năm 1968.
Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, trước đó 3 tháng, Phạm Xuân Ẩn được giao nhiệm vụ toàn diện nhằm phân tích các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, đánh giá thực lực và hệ thống phòng thủ của địch ở đô thành. Chính ông đã trực tiếp lái xe chở Cụm trưởng H63 Tư Cang đi khảo sát thực địa từng mục tiêu quân sự trọng yếu giữa lòng Sài Gòn. Khi tiếng súng tổng tiến công vang lên, ông tiếp tục bám sát bộ máy chỉ huy đối phương để kịp thời báo cáo các phản ứng đối phó của địch. Trong các đợt tiến công tiếp theo vào mùa hè và mùa thu năm 1968, lưới của ông đã lấy được tài liệu chiến lược “quét và giữ” của tướng Abrams cùng kế hoạch hành quân liên hợp AB-144 cho năm 1969.

Đồng chí Phạm Xuân Ẩn, cán bộ cụm tình báo H63, báo cáo và đánh giá quan điểm của phía Mỹ về chiến tranh tại Việt Nam.
Đặc biệt, ở một bước ngoặt lịch sử quyết định vận mệnh dân tộc, nhận định của Hai Trung mang giá trị sống còn. Sau chiến thắng Phước Long cuối năm 1974, Bộ Chính trị đặt ra câu hỏi hết sức cấp bách: Liệu Mỹ có can thiệp bằng không quân và hải quân để cứu vãn cho ngụy không khi ta đánh lớn? Nếu có thì can thiệp ở mức nào? Bằng tầm nhìn chiến lược sâu rộng và sự am tường sâu sắc nội tình chính giới Washington, X6 đã trả lời dứt khoát: “Dù chế độ ngụy có sụp đổ, Mỹ cũng dứt khoát không can thiệp, không đưa quân trở lại” kèm theo đó là 6 cuộn phim chụp nhiều tài liệu, trong đó có một tài liệu rất quan trọng của Ban Nghiên cứu chiến lược chính quyền Sài Gòn do tướng Nguyễn Xuân Triển làm Chủ tịch. Đó là bản nghiên cứu chiến lược gửi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nêu rõ tình hình suy sụp của ngụy quân, khẳng định Mỹ không thể can thiệp để cứu ngụy quyền Sài Gòn trong bất cứ tình huống nào vì áp lực quá căng thẳng của phong trào phản chiến trong nước. Quân Mỹ sẽ không trở lại miền Nam, Hạm đội 7 của Mỹ không trở lại Biển Đông, Mỹ không sử dụng lại pháo đài bay B-52 ở chiến trường Đông Dương và tiếp tục cắt giảm ngân sách viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa, kể cả viện trợ quốc phòng. Đặc biệt, bản nghiên cứu còn chỉ rõ: Trong bố trí lực lượng và chiến trường, chỗ yếu nhất và khó bảo vệ nhất là chiến trường Tây Nguyên và ở đó hiểm yếu nhất là Buôn Ma Thuột. Nếu Buôn Ma Thuột bị tấn công thì toàn bộ hệ thống phòng thủ ở Tây Nguyên sẽ sụp đổ.
Nhận định lịch sử ấy, hòa cùng các nguồn tin tình báo khác, đã củng cố vững chắc quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị mở Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhận các tài liệu báo cáo của Hai Trung, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng vui mừng thốt lên: “Ta đang ở trong cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ rồi đây!”.



