Khác

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT VÀ DÂN CƯ

Môi trường địa lý và hoàn cảnh lịch sử là những điều kiện quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi vùng đất. Do vị trí địa lý của mình, mỗi dân tộc sống không chỉ trong môi trường tự nhiên mà cả trong môi trường lịch sử nhất định và tự mình trải qua ảnh hưởng của môi trường ấy.

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Môi trường địa lý tự nhiên của một vùng đất là điều kiện tất yếu và thường xuyên của phát triển xã hội, là nền tảng không thể thiếu được cho sự sinh tồn của con người. Từ môi trường địa lý con người rút ra những thứ cần cho sinh hoạt cũng như cho lao động; bất kỳ lúc nào con người cũng cần có môi trường và không thể thoát ly môi trường được.


Lao động của con người sáng tạo ra của cải, nhưng sáng tạo từ vật chất có sẵn trong thiên nhiên và bằng cách sử dụng lực lượng của thiên nhiên. Người ta không thể lấy bất cứ cái gì thay cho thiên nhiên.

Là chỗ dựa cho quá trình hoạt động của con người, ảnh hưởng của điều kiện địa lý sẽ có vai trò đẩy mạnh hay làm chậm quá trình phát triển của vùng đất, sẽ có tác động đến cách thức sản xuất, cách ăn uống, mặc, ở, đi lại của con người, thậm chí, chi phối cả tình cảm, tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng và đời sống văn hoá tinh thần của cư dân.


Đối với sự phát triển của xã hội loài người, hoàn cảnh địa lý là tất yếu thường xuyên. Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử vùng đất Châu Đốc, không thể bỏ qua hay coi thường ý nghĩa của hoàn cảnh địa lý được.

a- Vị trí, giới hạn

Sau khi chiếm đóng thành Châu Đốc ngày 22-6-1867, thực dân Pháp đã phân chia Nam Kỳ, Châu Đốc trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh vào những thập niên cuối thế kỷ XIX.

Diện tích của tỉnh Châu Đốc khoảng 300.000ha, được tạo thành bởi đất phủ Tuy Biên, gồm 3 huyện Tĩnh Biên, Tây Xuyên và Đông Xuyên của tỉnh An Giang thời Nguyễn. Tỉnh Châu Đốc nằm giữa 102°30 và 103°20 kinh tuyến Đông và 11°30 vĩ tuyến Bắc, cách Sài Gòn 220km [154, tr.313]. Vào năm 1876, một Ủy ban xác lập biên giới đã hoạch định biên giới đoạn Châu Đốc với Campuchia là những cột mốc bằng gỗ cứng từ số 84 đến số 124.


Phía bắc Châu Đốc giáp với Campuchia, tuyến đường quy ước qua cột mốc 84, từ đó chạy dọc theo phía đông, vượt qua sông Hậu cho đến cột mốc số 89, đến rạch Bình Di, tới sông Châu Đốc qua cột mốc số 96, sau đó đến kênh Vĩnh Tế với khoảng cách độ 1.200m và đến cột 124 là giới hạn cuối cùng giữa Campuchia với hai tỉnh Châu Đốc và Hà Tiên. Phía đông Châu Đốc giáp với tỉnh Tân An và Long Xuyên, phía nam được phân chia bởi Rạch Giá và một phần thuộc tỉnh Long Xuyên, phía tây giáp Hà Tiên và đường biên dọc theo kênh Hà Tiên tới tận Châu Đốc [154, tr.313].


Vùng đất này bốn bề đều là đồng bằng thông với các xứ "như cái tang hoa tụ lại ở bầu xe" [80, tr.164]. Sách Đại Nam nhất thống chí nói: "Thực là đất hình thắng quan yếu ở miền Tây" [80, tr.164]. Sách Gia Định thành thông chí cũng nhận xét Châu Đốc "thực là nơi yếu địa biên phòng" [21, tr.198]. Với vị trí địa lý này, sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến nhiều mặt kinh tế, xã hội, văn hoá của tỉnh Châu Đốc, mà chúng ta sẽ xem xét ở những phần sau.

« Sửa lần cuối: 25 Tháng Sáu, 2021, 08:01:45 pm gửi bởi quansuvn »

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử khai phá và bảo vệ chủ quyền vùng đất Châu Đốc thời Nguyễn« Trả lời #3 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2021, 08:00:57 pm »
b- Địa hình

Địa hình của khu vực Châu Đốc, là yếu tố ngoại mạo nổi bật nhất của cảnh quan, yếu tố bền vững nhất, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các thành phần khác của tự nhiên. Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng sâu sắc và thường xuyên đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của con người. Châu Đốc là một vùng đất có tính chất khá độc đáo và đa dạng so với các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long, vừa có đồng bằng, vừa có núi, tạo nên địa hình cảnh quan kỳ thú hiếm có ở Nam Bộ. Có thể chia địa hình Châu Đốc làm hai khu vực chính sau đây:

- Khu vực giữa hai sông: sông Tiền và sông Hậu từ Cao Miên đổ vào Châu Đốc, chảy song song về phía đông ôm gọn vùng đất giữa hai sông từ Vĩnh Xương về đến Chợ Mới. Đây là vùng đất cù lao màu mỡ, dân cư đông đúc, xưa nay vân gợi lên trong tâm trí người Việt hình ảnh của sự phú túc, ấm no. Vùng đất này có nhiều sông rạch chia cắt và nối liền hai sông như rạch Ông Chưởng, sông Vàm Nao, kênh Vĩnh An,...

- Vùng đất đồng bằng và đồi núi phía tây sông Hậu có tỉnh lỵ Châu Đốc. Từ trung tâm của đạo Châu Đốc (1757-1832), tỉnh lỵ An Giang (1832-1867), đến cuối thế kỷ XIX, Châu Đốc trở thành tỉnh lỵ tồn tại đến năm 1975. Châu Đốc là trung tâm trọng yếu, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá quan trọng, có thể liên hoàn với vùng núi trong mọi hoạt động, không bị ngăn cách như vùng cù lao bởi con sông Hậu. Vùng đồi núi phía tây là 3 dãy liên hoàn nhau, gồm Dài lớn, Dài nhỏ và Phú Cường, có khoảng 33 ngọn đồi lớn nhỏ nằm rải rác từ Tịnh Biên vào Tri Tôn, với mức độ đồi núi san sát bên nhau, trong đó có vùng Thất Sơn. Thất Sơn là dãy núi hùng vĩ, với những ngọn cao thấp không đều nhau, kéo rộng ra thành hình cánh cung dài trên 30km, rộng khoảng 17km, chiếm khoảng 1/7 diện tích tỉnh Châu Đốc.

Về hình thế, Thất Sơn được coi là xương sống của Châu Đốc, là nơi "dung thân vạn đại" của kẻ chí sĩ, là khu vực chiến lược tính kế lâu dài cho quốc gia. Thất Sơn không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng đất mà còn là nhân tố khá đặc biệt chi phối đời sống văn hoá tâm linh của cư dân vùng này.


c- Đồi núi

Nằm ở phía tây nam Nam Bộ, vùng Châu Đốc có cảnh quan địa lý khá độc đáo, vừa có đồng bằng vừa có núi. Ngoài những hòn lẻ: núi Sam, núi Sập khá nổi tiếng, đồi núi Châu Đốc chủ yếu tập trung ở vùng Thất Sơn.


Với diện tích khoảng 43.000ha [148, tr.344], Thất Sơn tạo cho miền này không chỉ có vẻ đẹp khác thường, phong cảnh núi non hùng vĩ mà còn mang nhiều truyền thuyết về một vùng Thất Sơn huyền bí, linh địa "Tiền tam giang, hậu thất lĩnh". Thất Sơn (bảy ngọn núi) có nhiều tài liệu ghi khác nhau. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chưa thấy nói đến danh hiệu Thất Sơn. Đến đời Tự Đức sách Đại Nam nhất thống chí viết về Thất Sơn có 7 núi sau: 1. Núi Tượng, 2. Núi Tô 3. Núi Cấm, 4. Núi Ốc Nhẫm, 5. Núi Nam Vi, 6. Núi Tà Biêt, 7. Núi Nhân Hoà. Trong đó, núi Tượng (tức Kỳ Lân Sơn) ở xã Ba Chúc, cao khoảng 124m, chu vi 5.000m; núi Tô (tức Cô Tô hay Phụng Hoàng Sơn) cao 614m, chu vi 30.000m; núi Cấm (Bạch Hổ Sơn), cao 710m, chu vi 46.000m; núi Nam Vi cao 135m, chu vi 2.000m.


Với cảnh sắc của vùng núi ở giữa đồng bằng, Thất Sơn đã tô điểm cho cảnh quan Châu Đốc nét đẹp hiếm có. Sách Gia Định thành thông chí đã hết lời khen vùng núi Châu Đốc "vách dốc ngậm mây, suối cong tắm ngọc...” (núi Ca - Âm) [21, tr.50]; núi Nam Sư "tròn như đống vàng ở trên hồ vọt lên mặt đất trang trọng tươi đẹp"; núi Tà Biệt "nhỏ mà tự cường, thấp mà không khuất phục, có khí lỗi lạc ở trong" [21, tr.50j; núi Đài Tốn "gà gáy trăng dưới núi, tiếng chó sủa xuân trong động, thực có vẻ yên hà ở ngoài đời" [21, tr.51]. Những ghi chép của Trịnh Hoài Đức cho thấy, Thất Sơn là một vùng núi không chỉ đẹp, giàu như trong mơ mà còn là vùng đất ẩn chứa khí thiêng của sông núi.


Theo quan niệm phong thuỷ, Thất Sơn là nơi tụ "huyệt Long Đảnh" và mười hai huyệt huyền diệu [151, tr.88], nơi có "Kim Thành huyệt" được coi là Bảo Sơn (số 7), tương ứng với Cửu Long (số 9) - là Cửu Long huyệt hay Minh Đường huyệt - nơi âm dương hoà hợp, thánh nhân ra đời [52, tr.43]. Thất Sơn hiểm trở, lại ở vùng biên thuỳ "sơn bất tại cao hữu tiên tắc danh, thuỷ bất tại thâm hữu long tắc linh", nên trở thành nơi tu tiên luyện đạo, "Tu Phật Phú Yên, tu Tiên Bảy núi", điểm xuất phát đầu tiên của các tôn giáo Nam Bộ: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hoà Hảo,... Vùng núi Châu Đốc còn chứa đựng một nguồn của cải quý giá. Trong các thế kỷ XVII, XIX, khi các lưu dân người Việt, Khmer, Chăm, Hoa đến đây, họ đã được nuôi sống bằng nguồn tài nguyên quý giá, nhiều loại thú rừng như hươu nai, hổ báo, rùa, rắn,... và nguồn lâm sản dồi dào, nguồn dược liệu vô tận.


Từ xưa, ông cha ta đã dựa vào Thất Sơn để chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Để hỗ trợ và phát huy tính ưu việt của Thất Sơn, triều Nguyễn đã nỗ lực rất lớn để khai thống kênh Vĩnh Tế nối liền vùng biên giới Châu Đốc, Hà Tiên (1820-1824). Ở phía đông Thất Sơn, triều Nguyễn còn đào kênh Thoại Hà, nối liền Long Xuyên - Rạch Giá (1817). Đây là những công trình phòng thủ quan trọng tạo cho vùng đất chiến lược Châu Đốc có khả năng đập tan các đội quân xâm lược từ phía tây, bảo vệ "cửa ngõ" Tây Nam hiểm yếu của Gia Định.


Trong lịch sử, núi rừng Châu Đốc đã trở thành hào luỹ tự nhiên, sừng sững bao bọc phía Tây Nam đất nước, tiền đồn bảo vệ cửa ngõ phía tây Gia Định. Hiện tại và tương lai, Thất Sơn vẫn là một địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hoá, an ninh và trong sự nghiệp bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biên giới Tây Nam.


d- Đất đai

Châu Đốc được may mắn đón tiếp vị "phúc thần" Cửu Long ở hai ải địa đầu huyện Tân Châu và huyện An Phú.

Nhờ vậy, phần lớn đất đai thuộc vùng Châu Đốc là phù sa rất tốt còn một số rất ít là đất cát và đất sét lẫn mùn. Có thể chia đất ở Châu Đốc thành hai loại như sau:

- Đất phù sa: Hằng năm nước sông Cửu Long dâng cao, có năm lên 4 - 5m, mang theo phù sa chảy tràn vào đồng ruộng dọc hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu. Sau khi lũ rút, phù sa lắng lại trên đất cũ một lớp dày khoảng 2cm rất màu mỡ và phù hợp cho canh tác nông nghiệp.

- Đất cát pha: Loại này nằm trong vùng núi non thuộc phủ Tĩnh Biên xưa, nay là hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, gồm cát và phân thổ (nhiều lá cây mục nát thành phân) thích hợp cho việc trồng trọt các loại củ sắn, khoai, làm rẫy, trồng lúa,...


Năm 1985, theo phân loại Soil Taxonomy/ƯSDA, Trường đại học Cần Thơ, đất An Giang được phân thành sáu nhóm chính: Nhóm thứ nhất, nhóm đất phù sa ngọt, có diện tích 157.626,28ha, chiếm 44,86% tổng diện tích, là nhóm đất tốt nhất, không nhiễm phèn hay các độc tố khác, hàm lượng dinh dưỡng từ khá đến cao và cân đối, được phù sa sông bồi dày và nhiều. Nhóm thứ hai, nhóm đất phèn, chiếm 17.674,50ha, bằng 5,03% tổng diện tích, là nhóm đất xấu nhất, có nhiều độc chất làm hại cây trồng, sinh vật cũng như môi trường. Nhóm thứ ba, nhóm đất phù sa có phèn, chiếm 98.217,85ha, bằng 29,5% tổng diện tích, là nhóm đất có tầng sinh phèn xuất hiện khá sâu, ít có khả năng gây độc hại. Nhóm thứ tư, nhóm đất than bùn hữu cơ, chiếm 1.777,04ha, bằng 0,5% tổng diện tích. Nhóm thứ năm, nhóm đất phát triển tại chỗ và phù sa cổ chiếm 26.334,78ha, bằng 7,49% tổng diện tích, nghèo dinh dưỡng. Nhóm thứ sáu, các loại khác, bao gồm núi đá và đất tự xáo trộn, chiếm 49.785,53ha, bằng 14,17% tổng diện tích. Diện tích mặt nước của các sông rạch lớn chiếm 10.269ha, bằng 2,92% tổng diện tích, gồm chủ yếu là hệ thống sông Tiền và sông Hậu [152, tr.29, 31].

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn