Điều quý giá nhất là được sống trong một đất nước yên bình
Tôi nhập ngũ năm 1973, ngay khi vừa thi xong lớp 10, lúc đó vừa đủ 18 tuổi. Hồi ấy, lứa học sinh Hà Nội chúng tôi, hầu như ai cũng xác định thi xong thì đi bộ đội, để nếu may mắn trở về sẽ tiếp tục việc học tập. Tôi thuộc đơn vị Trung đoàn 1 - Đoàn Hậu Giang và cũng là một trong những người Hà Nội đầu tiên có mặt tại đơn vị. Chúng tôi khi ấy đều rất trẻ, phần lớn mới 18 - 20 tuổi, mang theo nhiệt huyết với tâm thế sẵn sàng chiến đấu vì Tổ quốc.
Thời đó, bộ đội thiếu thốn đủ bề, ăn sắn thay cơm, muối rang thay nước mắm... Chúng tôi vốn là những thanh niên quen với cuộc sống thành phố, nay phải bước vào rừng sâu, tập hành quân, tập ngủ võng, tập sống với thiên nhiên nên ai cũng bỡ ngỡ. Đêm đầu tiên nằm võng, tôi không ngủ được vì đau lưng, lâu dần rồi cũng quen.
Vào Nam chiến đấu là một hành trình dài. Từ miền Bắc, đơn vị chúng tôi đi tàu vào Nghệ An - Hà Tĩnh rồi tiếp tục đi ô tô vào Quảng Bình. Từ đó trở đi là hành quân bằng đường bộ, men theo đường Trường Sơn, đi qua biên giới Lào, rồi sang biên giới Campuchia để vào miền Nam. Mỗi người không thể mang đủ lương thực cho cả chặng đường nên cứ đến trạm giao liên lại nhận gạo, nghỉ ngơi rồi đi tiếp. Đêm ngủ võng, dựng tăng giữa rừng, chỉ cần có hai cái cây là thành một chỗ nghỉ. Rau rừng có gì ăn nấy, có những loại như rau tàu bay, rất chát nhưng vẫn phải ăn để sống. Đến Đông Nam Bộ thì đơn vị tôi nhận được quyết định chuyển sang miền Tây Nam Bộ.
Phải mất gần 8 tháng, từ tháng 1-1973 đến tháng 9-1973, chúng tôi mới vào đến chiến trường Tây Nam Bộ. Cuối năm 1974, chúng tôi được quán triệt sẽ có những trận đánh lớn trong năm 1975, nhưng đa số đều xác định cuộc chiến còn kéo dài, có thể thêm 5 - 10 năm nữa mới giành thắng lợi. Chính vì vậy, tâm thế chung của chúng tôi là chuẩn bị cho một cuộc chiến lâu dài, gian khổ hơn nữa.
Ngày 1-5-1975, miền Tây Nam Bộ mới được giải phóng. Trước đó, đêm 30-4 đơn vị tôi hành quân vào sát căn cứ Long Hồ (một huyện cũ của tỉnh Vĩnh Long), sẵn sàng đợi lệnh là đánh. Nhưng rồi tin Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng đến rất nhanh và phía đối phương đồng loạt bắn từng loạt súng lên trời như một cách quyết định giã từ vũ khí.
Sau đó, đơn vị tôi được lệnh tiến vào tiếp quản Vĩnh Long. Khi vào đến nơi, chính quyền Sài Gòn đã tự giải thể và rút đi hết, trụ sở bỏ trống. Người dân nơi đây rất cởi mở, tình cảm. Có người còn chủ động bắt chuyện, hỏi han. Khi biết tôi là bộ đội miền Bắc, họ chỉ hỏi: “Bây giờ chúng tôi sẽ ra sao?”. Tôi chỉ nói với họ rằng miền Nam đã được giải phóng, mọi người có thể yên tâm làm ăn.
Người dân cũng rất quý bộ đội. Người thì nấu cơm cho chúng tôi ăn, người thì sẵn sàng dẫn đường, giúp đỡ. Tôi còn nhớ có những hãng nước ngọt mang cả thùng ra tặng bộ đội. Không khí lúc đó vừa lạ lẫm, vừa ấm áp, khác xa với những gì tôi từng hình dung về một vùng vừa trải qua chiến tranh.
Sau chiến tranh, tôi trở về Hà Nội, tiếp tục học tại Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), rồi làm báo. Nhưng ký ức về những năm tháng ấy thì không bao giờ phai.
Tôi làm thơ từ khi còn trẻ, nhưng phải đến sau này mới có điều kiện học hỏi và viết một cách bài bản. Những bài thơ về người lính, về ngày 30-4 với tôi không chỉ là cảm xúc, mà còn là cách để ghi lại một phần đời đã đi qua. Những ký ức ấy theo tôi suốt cuộc đời và cũng đi vào thơ. Tôi từng viết:
“Ngày ấy, chúng mình mười tám
Súng trên vai, đi giữa rừng già
Chưa kịp hiểu hết về cái chết
Đã đi qua gần hết tuổi hoa”.
Bây giờ nhìn lại, tôi vẫn nghĩ cuộc kháng chiến chống Mỹ là một điều vĩ đại vì những hy sinh quá lớn lao. Từng tấc đất giành lại đều phải đánh đổi bằng xương máu. Chúng tôi đã đi qua thời đó và điều quý giá nhất bây giờ không chỉ là ký ức chiến thắng mà còn là được sống trong một đất nước yên bình.



