Điều thiêng liêng còn mãi!
Dù đã ở chân dốc bên kia của đời người nhưng bà vẫn nâng niu những kỷ vật về tình yêu với người chiến sĩ ấy. Từng trang giấy, nét chữ, màu mực vẫn vẹn nguyên như nụ cười, ánh mắt thân thương của người xưa trong di ảnh. Bà là Hà Thanh Thủy, quê ở Hà Đông, hiện sinh sống tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Trong khu vườn thoảng mùi hương hoa hồng, bà Hà Thanh Thủy kể cho tôi nghe về chuyện tình của mình. Nghe bà tâm sự, tôi có cảm tưởng như bà đang trò chuyện với một người đã đi xa, rất xa…
Năm 1963, dù đã thi đỗ 2 trường, Đại học Tổng hợp và Đại học Bách khoa Hà Nội, nhưng chàng trai Nguyễn Quốc Thái, sinh năm 1944, học sinh Trường cấp 3 Nguyễn Huệ, thị xã Hà Đông (tỉnh Hà Tây cũ) vẫn quyết định viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Đêm cuối cùng chia tay khóa học, nhà trường tổ chức liên hoan văn nghệ, mãi tận khuya, buổi liên hoan mới kết thúc, Thái một mình bước đi trên đường làng, anh không biết phía sau có người đang đuổi theo.
- Anh Thái!
- Em đấy à!
- Anh làm sao như người mất hồn vậy? Mấy hôm nay sao anh cứ lẩn trốn em? Lúc chiều, anh đăng ký nguyện vọng đi đâu?
- Anh sẽ đi bộ đội!
- Trời ơi, thế anh không đi học đại học à?
- Vào đại học là mơ ước của anh và cũng là ước nguyện của mẹ anh. Nhưng anh phải nhập ngũ như mọi người thôi.
- Làm sao anh cứ phải theo đuôi mọi người? Tìm một chỗ đứng hợp với khả năng của mình để có thể cống hiến thật nhiều cho xã hội đâu phải là xấu? Em vẫn tin rằng, chỗ đứng phù hợp của chúng mình bây giờ là giảng đường đại học. Với lại, anh là con một, được hoãn nghĩa vụ quân sự kia mà?
Thái lặng thinh suy nghĩ hồi lâu, anh nắm lấy tay Thủy, xúc động nói:
- Xa em, anh buồn lắm! Công việc nào cũng đáng quý nhưng thời chiến thì đánh giặc là quan trọng nhất em ạ! Anh muốn chứng minh cho mọi người biết rằng, thành phần xuất thân không thể tạo nên nhân cách của con người, rằng anh xứng đáng với tình yêu của em…
Họ tiếp tục sánh bước bên nhau trong đêm hè tĩnh lặng.
Sau khi Thủy vào học tại Trường Đại học Dược Hà Nội, Thái lên đường nhập ngũ, đóng quân tại Phong Châu (Phú Thọ). Họ thường xuyên viết thư cho nhau. Mỗi khi rảnh rỗi, Thái còn viết nhật ký, làm thơ. Trong cuốn sổ tay được anh ghi chép liên tục từ ngày 9-9-1963 đến ngày 23-7-1965 (trước lúc anh lên đường vào Nam chiến đấu) có nhiều trang viết về tình yêu. Xin trích một số dòng trong đó:
Ngày 3-12-1963
Hôm nay, chúng tôi bước vào ôn chính trị để chiều mai sát hạch,… Lòng bâng khuâng, tôi nhớ tới mấy hôm trước còn ở Mỹ Đức, cậu Huy viết một mảnh giấy rồi bảo tôi rút thăm. Tôi chọn một tờ rồi giở ra đọc “Tôi yêu Oanh tha thiết...”. Huy vẫn nghi tôi với Oanh. Anh bạn thân mến! Anh đã lầm bởi dù có gắp thăm đến một trăm lần đi nữa thì cũng đã muộn bởi chiếc thăm chính thức tôi đã gắp trước đây 2 năm rồi. Thủy thân yêu! Mong sao ngày nào cũng được đọc thư của Thủy…
Những ngày huấn luyện, công tác ở Phú Thọ, hình ảnh người yêu luôn ngập tràn trong trí nhớ, bám lấy anh, theo từng bước hành quân.
Ngày 23-2-1965
Em có biết anh nhớ em như thế nào không? Mỗi buổi chiều xuống, khi ánh nắng tắt dần sau mấy quả đồi sau doanh trại là anh nhớ đến em và ký ức lại quay cuồng trong óc. Ôi những buổi sớm mùa đông lành lạnh hay những buổi thu mát rượi anh chờ em trước cửa bưu điện. Những buổi tối oi bức trong gian nhà nhỏ đầy ánh trăng, hai chúng mình đọc sách bên nhau…
Có lần về phép nhưng không gặp người yêu, anh viết một bài thơ gửi lại:
Từ buổi xa quê/ Đến bây giờ vừa tròn sáu tháng/ Hôm nay anh về/ Giữa một buổi mai ngập đầy ánh nắng/ Ngõ nhà ta rụng trắng hoa bàng/ Nhà em mấy bận anh sang/ Mấy luống cà nở hoa tím ngắt/ Chờ mòn hai con mắt/ Chẳng thấy em đâu. Trưa hè thoang thoảng hương cau/ Anh thấy thèm tiếng cười em ngày nọ/ Buổi ấy bóng bàng mát ngõ/ Trời trưa cả xóm im lìm/ Chỉ có chúng mình với một đôi chim/ Đang rủ rỉ trong tán bàng xanh lá/ Anh ngắm em hoài/ Em cười xinh quá/ Đôi má ửng ráng trời chiều/ Ánh mắt em dìu dịu lửa nắng thiêu/ Rạo rực lòng anh hình em buổi ấy…/ Em yêu/ Thôi anh phải về đơn vị/ Gửi lời luống cà, luống bí/ Gốc bàng, xóm ngõ, đường quê/ Hôm nao em đi học về/ Nói giùm có anh bộ đội/ Chờ em sáng ngày đến tối/ Xới cà mỏi cả hai tay/ Chẳng thấy em về anh phải đi đây...
Và đây là lá thư anh gửi chị Thủy trước ngày lên đường vào Nam chiến đấu:
Ngày 21-12-1965
Em yêu suốt đời của anh!
Anh ra đi có hai điều lo lắng muốn nói với em. Đó là cuộc sống của mẹ và tình cảm của em. Mẹ anh già yếu lại có một mình anh, về vật chất không có gì đáng ngại nhưng anh ra đi mẹ rất buồn. Chắc em là phụ nữ em hiểu điều này hơn anh. Việc này anh nhờ các bạn thân đi lại, thư từ hỏi thăm động viên mẹ giúp anh. Cả em nữa, em phải giúp anh chứ.
Em yêu, còn em, em nghĩ gì về việc anh đi, riêng anh thấy rất khó nghĩ, để em chờ ư? Anh không thể ích kỷ như thế được. Thực tế anh đi chiến đấu thì việc sống còn ai mà lường hết được nên anh cũng không dám nói gì với em. Em ngàn lần yêu thương, tùy em, em chờ được thì chờ còn không chờ được thì thôi. Nếu chờ thì cũng chỉ một hạn định nào thôi, đừng có chờ lâu quá mà phí hoài tuổi trẻ. Có thể chờ anh 3 năm, 5 năm nhưng đừng hơn vì như thế đã quá lắm rồi…
Lá thư cuối cùng anh gửi người yêu từ chiến trường miền Nam với những tâm sự đầy lạc quan, tin tưởng:
Ngày 16-11-1967
Được thư em từ tháng 5 nhưng từ ngày ấy đến nay anh chẳng có hòm thư. Đơn vị lại hành quân chiến đấu luôn nên hôm nay anh mới viết thư được cho em. Chắc em giận anh và còn giận hơn phải không? Thôi bây giờ hãy tạm cho anh xin lỗi, để bao giờ anh về em muốn đấm bao nhiêu cho hả giận cũng được.
Anh về đơn vị từ tháng 5-1967 và tham gia chiến đấu luôn, sau đó là hành quân miết đến bây giờ. Ôi chao! Ở trong này rừng núi cao vút, đường đi đèo lại nối đèo, mùa mưa thì hành quân lầy lội không tả được. Nhưng em có biết không? Quân Giải phóng thì chấp hết...
Anh biết em nhớ và rất lo lắng cho anh cũng như anh nhớ em da diết. Chúng ta yêu nhau, thương nhớ nhau là điều đúng đắn, vậy trong giai đoạn này chúng mình cùng cố gắng công tác và chiến đấu để thực hiện mục đích cách mạng thì ước mơ của chúng ta cũng đạt được, chắc em cũng đồng ý với anh những điều ấy…
Em yêu thương, năm nay anh rất khỏe, giá bây giờ được lái xe đưa em đi chơi như ngày nào thì anh chỉ thấy em nặng như một chiếc chăn bông thôi…Về sức khỏe em đừng lo gì cho anh, anh đã đánh bạn được với thời tiết miền Nam rồi.
Hẹn ngày gặp nhau. Sắp đến 21-11, anh gửi tặng em của anh tình yêu nồng nàn… (21-11 là ngày sinh nhật của Thủy)
|
Bà Hà Thanh Thủy xem lại nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Quốc Thái. Ảnh: Đình Đông. |
Sau lá thư này, Thủy không còn nhận được bất kỳ một thông tin gì từ Thái nữa. Ngày 15-9-1968, anh vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường miền Đông Nam Bộ...
Năm 1971, Thanh Thủy lấy chồng. Chồng cô là Phạm Kim Anh (sau này là thiếu tá, nhà văn, ông cũng đã mất mười năm nay), một đồng đội cũ của Nguyễn Quốc Thái và cũng là bạn học chung thời phổ thông. Cảm thương mối tình dang dở của hai bạn, Phạm Kim Anh đã động viên, tiếp sức cho Hà Thanh Thủy rồi đem lòng yêu thương cô. Hơn ba năm sau ngày Nguyễn Quốc Thái hy sinh, hai người mới tổ chức hôn lễ. Năm 1976, hai vợ chồng chuyển từ Hà Nội vào công tác tại Đà Lạt và lần lượt có với nhau 3 người con giỏi giang, thành đạt.
Giờ đây, dù tuổi đã xế chiều nhưng trong trái tim bà Thủy, hình bóng người chiến sĩ, kỷ niệm mối tình đầu vẫn sâu đậm. Hiểu rõ nội tâm của vợ, những năm tháng sống bên nhau, chồng bà luôn trân trọng, yêu quý khoảng trời riêng đầy kỷ niệm ấy. Với ông và các con, người lính ấy mãi là người yêu của mẹ, người đồng đội của cha, người bố tinh thần của các con, và hơn hết là một phần cuộc sống tinh thần thiêng liêng của đại gia đình. Bà Thủy tâm sự rằng, cuộc sống con người là hữu hạn, rồi cũng đến lúc bà sẽ đi gặp người chiến sĩ ấy ở thế giới bên kia, nhưng trong cuộc sống của thế giới này, những điều thiêng liêng ấy sẽ còn mãi mãi...




