ĐINH BANH – HƠN 20 VẾT THƯƠNG VẪN XIN Ở LẠI CHIẾN ĐẤU
Đinh Banh sinh năm 1942, dân tộc Re, quê xã Sơn Thành, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 6-1959. Trong quá trình chiến đấu, ông tham gia 200 trận, trực tiếp diệt 54 đối phương, thu 28 súng và phá hủy 1 xe quân sự. Đặc biệt, ông 13 lần bị thương nhưng đều không rời trận địa cho đến khi trận đánh kết thúc. Trên cơ thể mang hơn 20 vết thương, có những thương tích rất nặng như hỏng một mắt, vỡ xương hàm, xương chậu, thủng nhiều đoạn ruột và còn đạn trong ngực, ông vẫn nhiều lần xin ở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Ngày 20-12-1973, Đinh Banh được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Có những người lính được nhớ đến bởi một trận đánh.
Có người được nhớ bởi một chiến công đặc biệt.
Với Đinh Banh, dấu ấn về ông còn nằm trên chính cơ thể mình:
Hơn 20 vết thương.
Một mắt bị hỏng.
Xương hàm từng bị vỡ.
Xương chậu bị tổn thương.
Nhiều đoạn ruột từng bị thủng.
Và đạn còn nằm trong ngực.
Trong quá trình chiến đấu, Đinh Banh 13 lần bị thương.
Nhưng điều đặc biệt hơn cả là:
Cả 13 lần, ông đều không rời trận địa cho đến khi trận đánh kết thúc.
TỪ NGƯỜI CON SƠN HÀ ĐẾN NGƯỜI LÍNH
Đinh Banh là người dân tộc Re, sinh ra tại xã Sơn Thành, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.
Tháng 6 năm 1959, ông nhập ngũ khi mới khoảng 17 tuổi.
Chiến trường quê hương Quảng Ngãi trở thành nơi người chiến sĩ trẻ trải qua những năm tháng khốc liệt nhất.
Ông chiến đấu từ người lính rồi trưởng thành thành cán bộ chỉ huy.
Khi được tuyên dương Anh hùng, Đinh Banh đã là Đại đội trưởng Đại đội 5 bộ binh, Tiểu đoàn 20, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi.
Trong suốt chặng đường ấy, ông tham gia tới 200 trận đánh.
Nhưng có một trận chiến đã thể hiện rất rõ phẩm chất của Đinh Banh.
Đó là Hòn Một, ngày 31-12-1965.
HÒN MỘT – BỊ THƯƠNG VẪN XÔNG LÊN DIỆT LÔ CỐT
Ngày cuối cùng của năm 1965.
Tại Hòn Một, Quảng Ngãi, đơn vị của Đinh Banh bước vào trận đánh trong điều kiện hỏa lực đối phương bắn rất dữ dội.
Muốn đưa đội hình tiến lên, phải giải quyết được lô cốt đầu cầu và các hỏa điểm quan trọng.
Giữa lúc chiến đấu quyết liệt, Đinh Banh bị thương.
Nhưng ông không lui lại.
Ông tiếp tục lao lên phía trước.
Mục tiêu trước tiên là lô cốt đầu cầu.
Đinh Banh xông lên tiêu diệt mục tiêu này rồi tiếp tục đánh vào bên trong vị trí, giải quyết các hỏa điểm quan trọng đang ngăn chặn đồng đội.
Khi những hỏa điểm ấy bị vô hiệu hóa, cửa tiến công được mở.
Đơn vị nhanh chóng xông lên.
Kết quả, đơn vị tiêu diệt gọn một đại đội đối phương.
Đinh Banh bị thương.
Nhưng chỉ rời trận địa sau khi nhiệm vụ đã hoàn thành.
Đó không phải lần duy nhất.
28-2-1969 – VẾT THƯƠNG THỦNG RUỘT, VỠ XƯƠNG CHẬU
Ngày 28-2-1969, Đinh Banh tham gia trận đánh lực lượng biệt kích đóng tại Sơn Hà, Quảng Ngãi.
Trong trận chiến, ông bị thương rất nặng:
Thủng ruột.
Vỡ xương chậu.
Với những thương tích ấy, việc tiếp tục ở lại trận địa là một thử thách khủng khiếp.
Nhưng Đinh Banh vẫn không rời vị trí.
Ông ở lại cùng đồng đội.
Không chỉ chịu đựng vết thương, người cán bộ ấy còn tiếp tục động viên anh em chiến đấu.
Cho đến khi trận đánh kết thúc.
Lúc ấy, ông mới rời trận địa để điều trị.
Đó là một trong những lần bị thương nặng nhất, nhưng vẫn chưa thể khiến Đinh Banh từ bỏ chiến trường.
“CHO TÔI Ở LẠI ĐƠN VỊ”
Những vết thương cứ tích tụ theo năm tháng.
Có vết thương khiến ông hỏng một mắt.
Có lần vỡ xương hàm.
Có lần vỡ xương chậu.
Có những vết thương làm thủng nhiều đoạn ruột.
Thậm chí, trong ngực ông vẫn còn đạn.
Cơ thể người lính ấy mang hơn 20 dấu tích chiến tranh.
Vì sức khỏe và những thương tích nặng nề, nhiều lần cấp trên muốn đưa Đinh Banh về tuyến sau nghỉ ngơi.
Nhưng ông vẫn thiết tha xin:
Được ở lại đơn vị.
Được tiếp tục chiến đấu.
Với Đinh Banh, những vết thương không phải lý do để rời đồng đội khi cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn.
18 NGƯỜI ĐỐI ĐẦU MỘT ĐẠI ĐỘI
Tháng 2 năm 1973.
Một đại đội đối phương tiến ra khu vực Tà Bua, Quảng Ngãi.
Trước tình hình đó, Đinh Banh chỉ có trong tay 18 chiến sĩ.
Lực lượng ít hơn nhiều.
Nhưng ông quyết định nhanh chóng vận động đánh địch.
Không chờ đối phương củng cố vị trí, Đinh Banh chỉ huy 18 người chủ động tiến công.
Trận đánh kết thúc với kết quả đơn vị được ghi nhận diệt 47 đối phương và thu vũ khí.
Riêng Đinh Banh trực tiếp diệt 7 người.
Khi ấy, người chỉ huy đang chiến đấu không còn là chàng trai 17 tuổi của năm 1959.
Đó là một người lính đã trải qua hàng trăm trận đánh và mang trên mình hơn 20 vết thương.
Nhưng tinh thần tiến công vẫn không thay đổi.
200 TRẬN ĐÁNH – 13 LẦN BỊ THƯƠNG
Cuộc đời chiến đấu của Đinh Banh được ghi lại bằng những con số đặc biệt:
200 trận chiến đấu.
54 đối phương bị ông trực tiếp tiêu diệt.
28 khẩu súng thu được.
1 xe quân sự bị phá hủy.
Và:
13 LẦN BỊ THƯƠNG.
Điều khiến con số cuối cùng trở nên đặc biệt là sau mỗi lần bị thương, nếu trận đánh chưa kết thúc, Đinh Banh không rời vị trí chiến đấu.
Thương tích có thể khiến cơ thể ông yếu đi.
Nhưng ý chí ở lại với đơn vị vẫn còn nguyên.
NGƯỜI ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG GIẢN DỊ
Sự kiên cường của Đinh Banh không chỉ thể hiện khi chiến đấu.
Trong đơn vị, ông luôn gương mẫu, gần gũi và đi sát giúp đỡ đồng đội.
Từ một chiến sĩ trẻ, qua thực tiễn chiến trường, ông trưởng thành thành Đại đội trưởng.
Nhưng ở cương vị chỉ huy, Đinh Banh vẫn giữ lối sống khiêm tốn, giản dị.
Chính sự gần gũi ấy cùng tinh thần luôn có mặt ở nơi khó khăn đã khiến ông được đồng đội tin yêu.
DẤU ẤN NGƯỜI ANH HÙNG
Với những thành tích trong chiến đấu, Đinh Banh được tặng:
🏅 5 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng
🏅 9 lần danh hiệu Chiến sĩ thi đua
Ngày 20-12-1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Đinh Banh danh hiệu:
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG
Nếu phải chọn một con số để kể câu chuyện về Đinh Banh, có lẽ không phải là 200 trận đánh.
Cũng không chỉ là 54 đối phương bị tiêu diệt hay 28 khẩu súng thu được.
Mà là con số:
13
Mười ba lần bị thương.
Mười ba lần, khi trận đánh còn tiếp diễn, ông vẫn ở lại.
Và sau tất cả, dù cơ thể mang hơn 20 vết thương, nhiều lần được đề nghị về tuyến sau, người chiến sĩ dân tộc Re ấy vẫn thiết tha xin tiếp tục ở lại đơn vị.
Hơn 20 vết thương là hơn 20 dấu tích của chiến trường trên cơ thể Đinh Banh. Nhưng dấu ấn lớn nhất ông để lại là một ý chí gần như không lay chuyển: còn đồng đội chiến đấu, còn nhiệm vụ chưa hoàn thành, ông chưa rời trận địa.


