Bài viết

Đinh Bộ Lĩnh - Người dẹp loạn 12 sứ quân

Phạm Anh Thư

Ninh Bình15/08/2026phường Kiến An (phường Kiến An)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau một thời gian dài đất nước rơi vào cảnh chia cắt, loạn lạc, Đinh Bộ Lĩnh đã đứng lên dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, khai mở triều đại nhà Đinh và khẳng định nước Nam độc lập hoàn toàn với phương Bắc. Cuối tháng 4, tỉnh Ninh Bình tổ chức lễ kỷ niệm 1050 năm nhà nước Đại Cồ Việt với kinh đô ban đầu là Hoa Lư. Sự ra đời của quốc hiệu Đại Cồ Việt gắn liền với việc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi năm 968 và trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau thời kỳ Bắc thuộc.

Đinh Bộ Lĩnh sinh năm Giáp Thân (924), quê ở thôn Kim Lự, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng, nay là thôn Văn Bồng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Ông sớm mồ côi cha. Cha ông là Đinh Công Trứ, từng giữ nhiều chức vụ trong triều đình. Sau khi cha mất, Đinh Bộ Lĩnh phải theo mẹ vào ở động bên cạnh đền thờ sơn thần. Từ nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất khác thường. Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vua lúc còn nhỏ chơi cùng với lũ trẻ chăn trâu ngoài đồng, lũ trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, nên cùng nhau tôn làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, tất bắt chúng khoanh tay làm kiệu để khiêng và lấy hoa lau đi hai bên để rước như là nghi vệ thiên tử. Ngày rỗi sang đánh trẻ con thôn khác, đến đâu chúng đều sợ phục, rủ nhau hàng ngày đến kiếm củi thổi cơm để phục dịch. Bà mẹ thấy thế mừng lắm, mổ lợn của nhà cho chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau rằng đứa trẻ này khí độ như thế, tất sẽ làm nên việc, bọn chúng ta nếu không theo về, ngày sau hối không kịp”. Những câu chuyện về tuổi thơ ấy cho thấy Đinh Bộ Lĩnh từ rất sớm đã có khí chất của một người đứng đầu.

Năm 944, khi Đinh Bộ Lĩnh tròn 20 tuổi, vua Ngô Quyền qua đời. Một năm sau, Dương Tam Kha chiếm khôi và xưng là Bình Vương. Con trai Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập chạy về Nam Sách, Hải Dương, tạo nên cuộc tranh chấp ngôi báu giữa nhà Ngô và ngoại tộc. Cuối cùng, Dương Tam Kha bại trận, Ngô Xương Ngập cùng em là Ngô Xương Văn nắm lại quyền lực. Tuy nhiên, việc cả hai anh em cùng nắm quyền khiến triều đình nhà Ngô ngày càng rối ren. Các sứ quân cát cứ lần lượt hình thành và nổi dậy, khiến đất nước đứng trước nguy cơ chia cắt sâu sắc.

Nhận thấy tình hình ấy, Đinh Bộ Lĩnh với vị thế là “con viên quan” triều đình nhà Ngô, có danh thế gia tộc, lại là người tài năng và giàu ý chí, đã sớm tập hợp lực lượng. Ông trở thành người đứng đầu sách Đào Úc, làm thủ lĩnh châu Đại Hoàng và lấy động Hoa Lư làm căn cứ ban đầu để thực hiện sự nghiệp thống nhất đất nước. Thấy Đinh Bộ Lĩnh tích cực xây dựng lực lượng tại căn cứ Hoa Lư, triều đình nhà Ngô lúc ấy đang rệu rã đã cho quân đến đánh dẹp. Đinh Bộ Lĩnh liền cho con mình là Đinh Liễn đến triều đình Cổ Loa làm con tin nhằm hòa hoãn, tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng.

Biết được ý định tạm hòa hoãn để củng cố lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh, hai vương Xương Văn và Xương Ngập cho quân tiến đánh động Hoa Lư. Tuy nhiên, quân của Đinh Bộ Lĩnh chống trả quyết liệt khiến quân nhà Ngô không thể dễ dàng tiến vào. Trong lúc giao chiến, hai vương bắt Đinh Liễn, treo ông lên cây và dọa giết để uy hiếp Đinh Bộ Lĩnh. Trước tình thế ấy, Đinh Bộ Lĩnh vẫn giữ vững khí phách, đanh thép nói: “Đại trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà xót con hay sao” rồi sai hơn chục người cầm cung nỏ nhằm bắn vào Đinh Liễn. Trước sự quyết liệt ấy, hai vương nhà Ngô buộc phải cho quân rút lui, còn Đinh Liễn cũng thoát chết.

Sau sự kiện đó, thế lực của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh. Nhiều tướng lĩnh tài ba cùng các tráng đinh từ vùng Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa ngày nay lần lượt tìm về dưới trướng của ông. Năm 954, Ngô Xương Ngập bị bệnh và chết. Hơn 10 năm sau, Ngô Xương Văn đem quân đi đánh các thế lực chống đối và chết trận. Không còn chính quyền trung ương đủ mạnh để kiểm soát đất nước, tình hình ngày càng rối loạn. Đất nước bị chia rẽ sâu sắc bởi sự nổi lên của 12 sứ quân, trong khi triều đình phương Bắc cũng nhăm nhe khôi phục ách đô hộ. Trước tình hình nguy cấp ấy, Đinh Bộ Lĩnh quyết định đứng lên dẹp loạn, thống nhất đất nước.

Trong suốt hai năm, Đinh Bộ Lĩnh vừa thuyết phục, vận động, liên kết, hàng phục, vừa sử dụng sức mạnh quân sự để lần lượt đánh dẹp các thế lực cát cứ. Đối với cánh quân Trần Lãm, Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí, ông dùng phương pháp liên kết và hàng phục; đối với cánh quân Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Nguyễn Thủ Tiệp, Kiều Thuận, Lý Khuê, ông dùng quân sự để đánh dẹp. Còn lại Lã Đường và Nguyễn Khoa không đánh cũng tự thua. Cuối cùng, Đinh Bộ Lĩnh lần lượt thu phục các sứ quân, chấm dứt tình trạng phân chia cát cứ và thống nhất đất nước. Nhờ những chiến công ấy, ông được gọi là Vạn Thắng Vương.

Năm Mậu Thìn (968), sau khi hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, tức Đinh Tiên Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt và định đô ở Hoa Lư. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ngay khi lên ngôi, Đinh Tiên Hoàng đã “đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời Kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung diện, đặt triều nghi. Bầy tôi dâng tôn là Đại Thắng Minh Hoàng Đế”. Hai năm sau, vào năm 970, vua đổi niên hiệu là Thái Bình.

Ba việc làm quan trọng của Đinh Tiên Hoàng gồm đổi xưng là hoàng đế, đổi tên nước thành Đại Cồ Việt và đặt niên hiệu riêng đã góp phần khẳng định vị thế độc lập của nước Việt thời bấy giờ. Trước đó, họ Khúc chỉ xưng làm tiết độ sứ, Ngô Quyền xưng vương. Đến thời vua Đinh, ông xưng làm hoàng đế với tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng Đế. “Chính từ đây, người đứng đầu nước Nam thực sự nhận về mình hai chữ thiên tử (con trời) như một lời khẳng định về độc lập và tự chủ của cả quốc gia”, tác giả Dũng Phan khẳng định trong Sử Việt - 12 khúc tráng ca. Các đời Lê, Lý, Trần, Nguyễn sau đó không xưng vương hay tiết độ sứ nữa mà đều xưng hoàng đế như một dòng chính thống độc lập hẳn với phương Bắc, mở ra thời đại quân chủ phong kiến trong lịch sử Việt Nam, đẩy lùi 1.000 năm Bắc thuộc.

Việc đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt cũng mang ý nghĩa đặc biệt. Thời Ngô, các vua xưng vương nhưng chưa có quốc hiệu, vẫn gọi theo tên thời thuộc Đường là Tĩnh Hải quân. Đến Đinh Tiên Hoàng, ông đặt tên nước là Đại Cồ Việt để khẳng định với phương Bắc rằng đây là đất nước của người Việt chứ không phải của người Hán. Đại Cồ Việt nghĩa là nước Việt lớn. Đến năm 970, Đinh Tiên Hoàng lấy niên hiệu Thái Bình. Trước đó, các vị vua Việt Nam đều lấy niên hiệu theo hoàng đế Trung Quốc. Việc tự đặt một niên hiệu riêng cho thấy nước Nam lúc bấy giờ đã trở thành một nhà nước phong kiến tập quyền riêng, có quân đội riêng và không còn phụ thuộc vào phương Bắc.

Cùng với niên hiệu Thái Bình, nhà Đinh còn đúc đồng tiền “Thái Bình hưng bảo”, góp phần khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam không chỉ trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa mà còn cả kinh tế. Những việc làm của Đinh Tiên Hoàng đã đặt nền móng quan trọng cho một quốc gia độc lập, tự chủ sau thời kỳ Bắc thuộc.

Nhận xét về Đinh Tiên Hoàng, sử gia Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua mở nước dựng đô, đổi xưng hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý trời vì nước Việt ta mà lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối quốc thống của Triệu Vương chăng”? Sử gia Lê Tung cũng viết trong Việt giám thông khảo tổng luận: “Vua chính thống của nước Việt ta, thực bắt đầu từ đấy”. Từ một cậu bé chăn trâu có khí chất khác thường đến người dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước và dựng nên nhà nước Đại Cồ Việt, Đinh Bộ Lĩnh đã để lại một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử dân tộc, mở ra thời kỳ nước Việt độc lập, tự chủ và có vị thế riêng trên bản đồ khu vực.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đinh Bộ Lĩnh - Người dẹp loạn 12 sứ quân | Câu chuyện thời hoa lửa