Đinh Điền vị tướng tài song hành với thời nhà Đinh
Tướng quân Đinh Điền sinh năm 924, mất năm 979, quê làng Đại Hữu, nay là xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, là một trong những vị Khai quốc Công thần của nước Đại Cồ Việt, người tận trung, tận nghĩa với nhà Đinh. Theo sử liệu, các Thần phả thần tích và truyền thuyết dân gian tại các nơi thờ ông, đã viết như sau: Tướng quân Đinh Điền có cha là Đinh Thân, mẹ là Dương Thị Liễu, quê bà ở làng Yên Bạc, nay là xã Yên Phú, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Khi mới sinh ông có tên là Đinh Trào; ông là bạn thân của Đinh Bộ Lĩnh, khi còn nhỏ chăn trâu ở Thung Lau, động Hoa Lư, Gia Viễn, đã cùng đám trẻ chăn trâu lấy hoa lau làm cờ, khoanh tay làm kiệu, suy tôn rước Đinh Bộ Lĩnh lên làm Chúa, thu phục các đám trẻ chăn trâu ở các làng khác. Lớn lên, ông cùng Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú theo phò giúp Đinh Bộ Lĩnh trấn giữ động Hoa Lư, chống lại nhà Ngô.

Năm 965, nhà Ngô mất, ông cùng các chiến hữu phò giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, ông được giao chỉ huy 10 đạo quân đi thu phục đánh dẹp các nơi. Phu nhân của ông là bà Phan Thị Môi Nương, con gái trang Đằng Man (nay là phường Lam Sơn, TP Hưng Yên), đã cùng theo chồng đánh giặc, Bà cải trang trà trộn vào doanh trại địch để hậu thuẫn, mở cổng thành cho quân của ông tiến vào đánh phá thành; Bà đã đóng góp nhiều công lao cùng chồng phù giúp Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân; trong vòng 3 năm Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh thống nhất được Đất nước.
Năm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Vua, xưng đế hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, niên hiệu là Thái Bình, với ý nghĩa nước Việt to lớn, thái bình, xây nền độc lập tự chủ, sánh ngang hàng với các triều đại phong kiến phương Bắc. Khi Vua Đinh xét khen thưởng những người có công lao, ông Đinh Điền được vinh phong Đệ nhất Công thần “trong Tứ trụ triều đình có bốn ông: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú và Lưu Cơ”. Ông được cử giữ chức Ngoại giáp (coi việc bên ngoài), theo các Thần phả, ông giữ chức Nhập nội Kiểm giáo Đại Tư Đồ, Bình chương Quân quốc Trọng sự, cùng trông coi quốc sự (Tể tướng).
Năm Kỷ Mão (979), Vua Đinh Tiên Hoàng cùng con trai trưởng là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị đầu độc sát hại, triều đình tôn Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi kế vị; Lê Hoàn cùng làm Nhiếp chính đại thần, sau đó tự xưng là Phó Vương, mọi việc trọng sự đều do tay Lê Hoàn quyết định cả. Cho rằng Lê Hoàn có ý đồ thoán đoạt, Ông đã bàn với Nguyễn Bặc, Phạm Hạp cùng một số trung thần khác, bỏ quan về ở ẩn để mưu tính chuẩn bị cho đại sự; rồi cùng hợp quân với Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, đem hai đạo quân thuỷ bộ từ Ái Châu (Thanh Hóa) tiến về kinh thành Hoa Lư mưu giết Lê Hoàn, thu giang sơn lại cho nhà Đinh. Nhưng Lê Hoàn lợi dụng gió đông nam thổi mạnh, đánh trận hỏa công, đốt sạch thuyền bè, quân sĩ của Đinh Điền, Nguyễn Bặc cũng tan rã, Đinh Điền bị tử trận. Nhân dân vô cùng thương xót, coi ông là bậc trung thần, vì nghĩa cả quên mình, nên đã thu nhặt hài cốt ông đem về chùa Trúc Lâm, nơi ông tu hành trước đó để an táng. Sau đó không lâu, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp cũng bị Lê Hoàn đánh bại, bị bắt và bị diết hại.
Theo sách "Đinh Đồ sự tích" ở đền thờ Đinh Điền bên cạnh chùa Tháp, thôn Yên Liêu Hạ, xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, Ninh Bình, sau khi bất hòa với Lê Hoàn, Đinh Điền đem vợ là Thượng Trân Trưởng Công chúa về với Kiều Mộc Thiền sư Lương Tuấn, rút về làng Lều (Yên Liêu Hạ) dựng chùa để tu hành, nhưng thực chất là xây dựng căn cứ, tích trữ lương thảo, chiêu mộ binh mã để chống lại Lê Hoàn. Ông lập ra 9 doanh trại, sau này 9 làng đều có đền miếu thờ ông là: Yên Lưu Thượng, Yên Lưu Hạ, Phúc Mỹ, Yên Thịnh, Yên Bắc, Yên Phó, Văn Giáp, Yên Lữ, (Yên Xuyên); Đinh Điền thường ở làng Lều và Yên Lữ, quê mẹ của Ông.
Còn Nguyễn Bặc rút quân vào Châu Ái (Thanh Hóa), kết hợp với Đinh Điền, chuẩn bị tấn công thành Hoa Lư. Thời ấy làng Lều là một vùng đất mới bồi, cách kinh thành Hoa Lư khoảng hơn 20 km, ở gần sông Trinh Nữ. Từ đây có thể dễ dàng rút lui vào châu Ái theo cửa bể Thần Phù, cũng có thể nhanh chóng tấn công kinh thành Hoa Lư. Hiện nay ở đây còn một số địa danh có liên quan đến Đinh Điền như: Làng Lều là nơi Đinh Điền dựng lều trú quân, làng Lợn (sau đổi thành làng Luận) là nơi nuôi lợn, cánh đồng Văn Giáo là nơi rèn đúc và cất giữ gươm giáo... Tương truyền Đinh Điền dựng một ngôi chùa ba gian, sau gọi là chùa Tháp trên một khu đất rộng 7 sào. Ông cắm một khu đất ở xung quanh rộng 17 mẫu, một khu ruộng 30 mẫu, có tên là "Thần Điền", nay thuộc xã Khánh Dương, Yên Mô.
Về thời gian diễn ra trận chiến và cái chết của Tướng quân Đinh Điền, các nguồn sử liệu ghi có khác nhau: Sử sách thống nhất ghi việc này diễn ra vào cuối năm 979; thần phả ở Ninh Bình ghi diễn ra ngày 20 tháng 4 năm Canh Thìn (tức ngày 5 / 6 / 980); một số thần phả khác lại cho rằng ông cùng vợ là bà Phan Thị Môi Nương bị thua trận, quân tan nát hết, nên cùng nhau tự vẫn vào ngày 20 tháng 11 năm Kỷ Mão (tức ngày 12 /12 / 979), chứ không phải bị tử trận.
Sử thần Ngô sĩ Liên bàn: “Chu Công là người vương thất rất thân, giúp vua nhỏ còn không tránh khỏi những lời gièm pha phao truyền. Lê Hoàn là đại thần khác họ, nắm giữ binh quyền, làm công việc như Chu Công, thường tình còn ngờ vực, huấn hồ Nguyễn Bặc ở chức Thủ tướng và Đinh Điền là Đại thần cùng họ hay sao? Bọn họ khởi binh không phải làm loạn, mà một lòng phù tá nhà Đinh, vì diết Hoàn không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ …”
Trong “Khâm định Việt sử Thông giám cương mục” triều Nguyễn, chép: “Thập đạo tướng quân Lê Hoàn tự xưng là Phó vương. Bọn Định Quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền và Phạm Hạp dấy quân đánh Lê Hoàn không được đều tử tiết ”

