Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐINH NGHÍT – NGƯỜI CHIẾN SĨ HRÊ MỞ CỬA GIỮA LỬA ĐẠN

Anh hùng LLVTND Đinh Nghít (sinh năm 1941), dân tộc Hrê, quê xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 10/1961. Từ một giao liên, du kích, ông trưởng thành thành trung đội phó Đại đội 2, Tiểu đoàn 20, Quân khu 5. Trong 59 trận chiến đấu, ông trực tiếp diệt 38 quân đối phương, thu 25 khẩu súng, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng và phá hủy 1 xe vận tải. Ông đặc biệt nổi bật trong nhiệm vụ đánh bộc phá mở cửa, xung kích giữ đầu cầu và đánh thọc sâu tại Ruộng Khoai, Hòa Một, Hùng Vờ. Ngày 17/9/1967, Đinh Nghít được tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Đồng Tháp22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa núi rừng Quảng Ngãi, có một người con của đồng bào Hrê đã đi từ những bước chân giao liên trên đường rừng đến vị trí của người chiến sĩ bộc phá luôn tiến lên trước đội hình.

Tên ông là Đinh Nghít.

Ông sinh năm 1941, tại xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

Gia đình nghèo, cha mất sớm. Cuộc sống từ nhỏ đã nhiều thiếu thốn, nhưng cũng chính trên quê hương ấy, Đinh Nghít được tiếp xúc với cách mạng và sớm hiểu con đường mình muốn lựa chọn.

Năm 17 tuổi, ông bắt đầu tham gia kháng chiến.

Ban đầu là giao liên.

Rồi du kích.

Sau đó là bộ đội huyện.

Tháng 10 năm 1961, Đinh Nghít được chuyển về Tiểu đoàn 20, Quân khu 5.

Từ đây, người thanh niên Hrê bước vào những trận đánh ngày càng ác liệt.

Năm phút ở Ruộng Khoai

Tháng 1 năm 1965.

Mục tiêu của đơn vị là đồn Ruộng Khoai, Sơn Hà.

Đinh Nghít dẫn tiểu đội bộc phá bí mật tiếp cận và lọt vào khu vực đồn.

Bất ngờ có lệnh nổ súng.

Không còn thời gian chờ đợi.

Đinh Nghít lập tức chuyển sang tiến công.

Ông vừa sử dụng bộc phá mở đường, vừa cùng đồng đội đánh vào lực lượng canh gác, nhanh chóng tạo được cửa mở cho đội hình phía sau.

Lực lượng xung kích tràn vào.

Theo tư liệu, chỉ sau khoảng 5 phút, đơn vị đã hạ được đồn.

Điều đặc biệt là tiểu đội của Đinh Nghít không có ai bị thương vong.

Một trận đánh rất ngắn, nhưng cho thấy vai trò quan trọng của người chiến sĩ mở cửa: nhanh, chính xác và quyết đoán.

Chặn hai cánh quân giữa đồng

Chỉ một tháng sau, tháng 2/1965, Đinh Nghít lại bước vào một tình huống hoàn toàn khác.

Tiểu đội của ông được giao chặn đầu một đại đội đối phương đang hành quân từ Hà Thành về phía đèo Eo Gió.

Theo dự kiến, lực lượng sẽ xuất hiện theo một hướng.

Nhưng thực tế khác hẳn.

Đối phương bất ngờ chia thành hai cánh, tiến qua khu vực ruộng.

Đinh Nghít lập tức thay đổi cách đánh.

Thay vì chỉ tập trung vào một hướng, ông tổ chức tiểu đội chặn cả hai cánh.

Đội hình đối phương bị ghìm lại giữa ruộng.

Thời cơ xuất hiện.

Lực lượng chủ lực của đơn vị lập tức tiến công.

Kết quả, theo hồ sơ thành tích, toàn bộ đại đội đối phương bị tiêu diệt, đơn vị thu 47 khẩu súng, trong đó có 7 trung liên.

Khả năng xử trí linh hoạt của Đinh Nghít đã góp phần biến một tình huống bất ngờ thành thế trận có lợi.

Lần thứ nhất ở Hòa Một

Tháng 4 năm 1965, Đinh Nghít tham gia đánh đồn Hòa Một lần thứ nhất.

Lần này, nhiệm vụ của ông là đánh thọc sâu.

Đó là nhiệm vụ đòi hỏi người chiến sĩ không chỉ gan dạ mà còn phải giữ được tốc độ tiến công, bởi nếu chậm lại, đối phương có thể củng cố phòng thủ và chia cắt đội hình.

Đinh Nghít dẫn đầu tiểu đội tiến sâu vào vị trí.

Mũi chiến đấu của ông phối hợp với các lực lượng khác, góp phần giúp đơn vị tiêu diệt toàn bộ lực lượng trong đồn.

Nhưng Hòa Một chưa kết thúc ở đó.

Cuối năm ấy, Đinh Nghít trở lại.

Và lần này là một trận đánh khốc liệt hơn.

Vượt con hào sâu

Tháng 12/1965, đơn vị đánh đồn Hòa Một lần thứ hai.

Đinh Nghít được giao một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất:

mở cửa ở hướng đột kích chủ yếu.

Tiểu đội bí mật tiếp cận hàng rào.

Họ mới mở được một lớp thì có lệnh nổ súng.

Không chần chừ, Đinh Nghít lập tức chỉ huy các chiến sĩ liên tục đánh bộc phá.

Từng lớp vật cản được phá.

Cửa mở dần hình thành.

Nhưng phía trước xuất hiện một trở ngại lớn.

Một con hào sâu quá đầu người, rộng khoảng 2,5 mét chắn ngang đường tiến quân.

Phía bên kia, lực lượng đối phương dựa vào bờ thành chống trả quyết liệt.

Đinh Nghít và đồng đội nghĩ ra cách vượt qua.

Họ công kênh nhau, đưa từng người vượt hào.

Qua được phía bên kia, Đinh Nghít sử dụng lựu đạn đánh vào những vị trí đang ngăn cản đội hình.

Trong lúc chiến đấu, ông bị thương ở mặt và đùi.

Nhưng ông không rời trận địa.

Đinh Nghít tiếp tục tiến lên.

Khi lực lượng làm chủ được khu vực quan trọng, ông xông lên cắm cờ trên nóc lô cốt.

Theo tư liệu, đơn vị nhanh chóng tiêu diệt đại đội đối phương, thu toàn bộ vũ khí, góp phần giải phóng hoàn toàn xã Tịnh Giang.

Riêng Đinh Nghít được ghi nhận diệt 10, bắt 1 người và thu 5 khẩu súng.

Ông được bình công đầu trong trận đánh.

Tìm một con đường khác ở Hùng Vờ

Tháng 2 năm 1966.

Đinh Nghít tiếp tục tham gia trận đánh đồn Hùng Vờ lần thứ hai.

Tiểu đội của ông lại được giao mở cửa, sau đó chuyển sang lực lượng xung kích.

Nhưng ngay tại cửa mở, trận đánh diễn biến quyết liệt.

Đối phương phản kích mạnh.

Nếu tiếp tục lao vào đúng hướng cũ, lực lượng có thể chịu tổn thất lớn.

Đinh Nghít quyết định thay đổi.

Ông dẫn tiểu đội cơ động sang một hướng khác.

Ở đó, ông phát hiện một đoạn tường đã bị thủng.

Một con đường mới xuất hiện.

Không bỏ lỡ thời cơ, Đinh Nghít dẫn đầu lực lượng xông qua lỗ tường, đánh thẳng vào bên trong.

Lô cốt bị đánh chiếm.

Tiểu đội tiếp tục phát triển qua sân và các hào giao thông, phối hợp với mũi chủ yếu đang tiến công từ hướng khác.

Thế phòng thủ bị phá vỡ.

Đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.

Đó cũng là nét nổi bật trong cách chiến đấu của Đinh Nghít:

không chỉ dũng cảm tiến lên, mà còn biết tìm con đường phù hợp để tiến lên.

Bốn ngày cõng đồng đội trở về

Nhưng có một câu chuyện khác về Đinh Nghít không diễn ra giữa tiếng súng.

Trong một chuyến đi trinh sát, một đồng đội của ông vướng mìn và bị thương.

Đường về đơn vị xa.

Địa hình rừng núi khó khăn.

Đinh Nghít không bỏ người đồng đội lại phía sau.

Ông cõng người chiến sĩ bị thương.

Đi từng đoạn đường.

Qua từng con dốc.

Và hành trình ấy kéo dài suốt bốn ngày cho đến khi đưa được đồng đội trở về đơn vị.

Trong cuộc sống thường ngày, ông cũng thường nhận phần khó về mình. Giữa lúc chiến trường còn thiếu thốn, nếu có quần áo mới, Đinh Nghít nhường cho đồng đội, còn mình tiếp tục mặc những bộ quần áo cũ đã vá.

Ở người chiến sĩ ấy, lòng dũng cảm trên chiến trường và tình thương đồng đội là hai mặt của cùng một phẩm chất.

Người con Hrê của núi rừng Quảng Ngãi

Trong quá trình chiến đấu, Đinh Nghít tham gia 59 trận, được ghi nhận trực tiếp diệt 38 quân đối phương, thu 25 khẩu súng, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng và phá hủy 1 xe vận tải.

Ông trưởng thành từ giao liên, du kích thành người cán bộ chỉ huy.

Đinh Nghít được tặng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba; đạt các danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt máy bay và Dũng sĩ diệt cơ giới.

Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đinh Nghít được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Khi ấy, ông mới khoảng 26 tuổi.

Từ người thanh niên Hrê làm giao liên trên những con đường núi, Đinh Nghít đã trở thành người chiến sĩ thường xuyên đứng ở nơi nguy hiểm nhất của đội hình:

người mang bộc phá mở cửa,
người dẫn đầu mũi thọc sâu,
người bị thương vẫn tiến lên,
và cũng là người cõng đồng đội suốt bốn ngày để không ai bị bỏ lại phía sau.

Đó có lẽ là hình ảnh đầy đủ nhất về Đinh Nghít: gan dạ trong chiến đấu, linh hoạt khi chỉ huy và nặng nghĩa với đồng đội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn