Bài viết

Đinh Ngọc Liên – người chỉ huy 75 tiếng kèn trong ngày Độc lập

Chỉ trong ít ngày sau Tổng khởi nghĩa, Đinh Ngọc Liên đã đưa những người lính kèn của chế độ cũ trở thành Ban Âm nhạc Giải phóng quân. Dưới cây đũa chỉ huy của ông, “Tiến quân ca” vang lên khi lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Quảng Trị24/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một giờ sáng ngày 2 tháng 9 năm 1945, doanh trại của Ban Âm nhạc Giải phóng quân vẫn sáng đèn.

Nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên đã dặn các nhạc công phải ngủ sớm để giữ sức cho buổi lễ hôm sau. Nhưng không ai có thể chợp mắt. Có người kiểm tra lại kèn, có người chỉnh trang quân phục, có người đi lại trong phòng vì hồi hộp.

Chỉ vài giờ nữa, họ sẽ bước vào Quảng trường Ba Đình. Trước hàng chục vạn đồng bào, dàn kèn sẽ trình tấu “Tiến quân ca” trong lễ chào cờ của một quốc gia vừa giành được độc lập.

Điều đặc biệt là chỉ chưa đầy hai tuần trước đó, phần lớn những người nhạc công này vẫn thuộc đội kèn của lực lượng Bảo an binh dưới chế độ cũ.

Bằng cách nào một đội nhạc binh thuộc chính quyền cũ có thể nhanh chóng trở thành đoàn quân nhạc của cách mạng? Và ai đã giúp những tiếng kèn ấy tìm thấy con đường đi cùng dân tộc?

Người đứng giữa bước chuyển lịch sử đó là Đinh Ngọc Liên.

Ông sinh ngày 1 tháng 5 năm 1912 tại làng Phú Nhai, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, trong một gia đình Công giáo. Ngôi nhà của gia đình nằm gần nhà thờ nên từ nhỏ, cậu bé Liên đã quen với tiếng chuông, những bài thánh ca nhiều bè và âm thanh của dàn kèn trong các cuộc rước lễ.

Gia đình từng mong muốn ông trở thành linh mục. Đinh Ngọc Liên được đưa vào trường dòng, học tiếng Latin, học vẽ, học đàn và học kèn. Ông khéo tay, chăm chỉ, nhưng trong tất cả những môn được học, âm nhạc có sức hấp dẫn mạnh mẽ nhất.

Khi mới hơn mười tuổi, ông đã có thể ngồi trước đàn harmonium để đệm cho dàn hợp xướng nhà thờ. Từ những bản thánh ca đầu tiên ấy, âm nhạc dần trở thành con đường suốt đời của ông.

Khi trưởng thành, Đinh Ngọc Liên gia nhập đội nhạc binh lính khố xanh trực thuộc chính quyền thuộc địa. Tại đây, ông học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ hơi, nghiên cứu hòa âm, phối khí và rèn luyện kỹ năng chỉ huy dàn nhạc.

Đội kèn ấy vốn được thành lập để phục vụ các nghi lễ của bộ máy cai trị. Những bản nhạc vang lên theo mệnh lệnh, không thuộc về đời sống và khát vọng của người dân Việt Nam.

Nhưng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã làm thay đổi tất cả.

Ngày 19 tháng 8, nhân dân Hà Nội giành chính quyền. Cờ đỏ sao vàng xuất hiện khắp các đường phố. Bộ máy cũ tan rã, trong khi một chính quyền cách mạng mới đang được khẩn trương xây dựng.

Trong thời điểm ấy, chỉ huy lực lượng vũ trang Hà Nội Vương Thừa Vũ tìm gặp Đinh Ngọc Liên. Ông giải thích cho người nhạc trưởng về mục tiêu của cách mạng và vai trò của âm nhạc trong việc cổ vũ, tập hợp nhân dân.

Đinh Ngọc Liên đứng trước một lựa chọn lớn. Ông có thể giải tán đội kèn, để mỗi người tự tìm đường sống. Nhưng ông hiểu rằng âm nhạc không có lỗi vì từng được sử dụng bởi chế độ cũ. Những chiếc kèn cũng có thể cất lên vì một đất nước độc lập, nếu người cầm kèn lựa chọn đứng về phía nhân dân.

Bằng uy tín của mình, ông vận động khoảng 72 nhạc công cùng đi theo cách mạng. Ngày 20 tháng 8 năm 1945, Ban Âm nhạc Giải phóng quân được thành lập theo lệnh của Ủy ban Tổng khởi nghĩa. Khi tổ chức hoàn chỉnh, ban nhạc có khoảng 75 người, phần lớn xuất thân từ đội kèn Bảo an binh.

Những người vừa rời hàng ngũ cũ nhanh chóng được giao một nhiệm vụ chưa từng có: chuẩn bị âm nhạc cho lễ thành lập nước.

Thời gian chỉ còn tính bằng ngày.

Bản nhạc quan trọng nhất là “Tiến quân ca” của Văn Cao, tác phẩm đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn làm Quốc ca. Trước đó, bài hát thường được thể hiện bằng giọng hát tập thể. Nay Đinh Ngọc Liên phải chuyển nó thành tổng phổ cho một dàn nhạc kèn gồm trumpet, cor, saxophone, clarinet và nhiều nhạc cụ khác.

Quốc ca không thể được trình diễn như một hành khúc thông thường. Từng trường độ, hòa âm và sắc thái phải thể hiện được sự trang nghiêm, mạnh mẽ và tầm vóc của một quốc gia độc lập.

Đinh Ngọc Liên cùng nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu tìm gặp Văn Cao để trao đổi. Ba người thống nhất điều chỉnh trường độ của hai nốt nhạc, trong đó có nốt mở đầu ứng với chữ “Đoàn”. Trước đó, chữ này được ngân dài; khi chuyển sang dàn kèn nghi lễ, nốt được rút ngắn để câu nhạc đi ngay vào nhịp bước, trở nên khỏe khoắn và dứt khoát hơn.

Sau này, Văn Cao từng bày tỏ sự trân trọng đối với đóng góp của Đinh Ngọc Liên trong việc hoàn thiện cách thể hiện phần mở đầu của Quốc ca.

Khi bản tổng phổ hoàn thành, cả 75 nhạc công lao vào tập luyện. Họ không chỉ phải học đúng từng nốt mà còn phải thống nhất nhịp thở, động tác, đội hình và cách di chuyển. Ngoài “Tiến quân ca”, ban nhạc còn chuẩn bị “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi và một số hành khúc khác.

Ngày 1 tháng 9, họ tập đi tập lại suốt nhiều giờ. Đêm ấy, gần như không ai ngủ được.

Từ một giờ sáng ngày 2 tháng 9, các nhạc công đã mặc quần soóc, áo kaki vàng, đi giày da và đội mũ ca lô có gắn quân hiệu. Người kiểm tra kèn, người chỉnh hàng ngũ, tất cả chờ thời khắc lên đường.

Sáng sớm, Ban Âm nhạc Giải phóng quân tiến vào Quảng trường Ba Đình theo đội hình có đội thông hiệu, đội trống và đội nhạc hơi. Tại quảng trường, dàn nhạc xếp thành năm hàng ngang, mặt hướng về lễ đài.

Khi lá cờ đỏ sao vàng từ từ được kéo lên, cây đũa chỉ huy của Đinh Ngọc Liên chuyển động.

“Tiến quân ca” vang lên.

Âm thanh của 75 nhạc công hòa thành một khối. Đó không còn là tiếng kèn của đội quân phục vụ bộ máy thuộc địa. Đó là Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được trình tấu trước đồng bào cả nước và thế giới trong thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Những nhạc công đã dùng chính kỹ năng được học dưới chế độ cũ để phục vụ một đất nước mới. Còn Đinh Ngọc Liên, bằng lựa chọn của mình, đã giúp cả một dàn nhạc đi từ vị trí của người thừa hành nghi lễ thuộc địa trở thành những chiến sĩ quân nhạc của cách mạng.

Sau khi buổi lễ kết thúc, đoàn quân nhạc xếp thành ba hàng, đi qua các đường phố Hà Nội và vừa đi vừa biểu diễn hành khúc. Những tiếng kèn tiếp tục vang lên giữa thành phố đang sống trong niềm vui độc lập.

Trong những ngày sau đó, Ban Âm nhạc Giải phóng quân phục vụ các cuộc mít tinh và hòa nhạc tại vườn hoa Chí Linh, Bách Thảo, Nhà hát Lớn và Đài phát thanh. Các nhạc công còn dạy hát cho Hội Phụ nữ cứu quốc, thiếu nhi và người dân trong thành phố.

Âm nhạc từ một hoạt động nghi lễ đã trở thành phương tiện tập hợp quần chúng. Đinh Ngọc Liên nhận thấy trong những cuộc diễu hành, người dân thường bước không đều và đội hình thiếu khí thế. Ông tổ chức dàn kèn tấu những hành khúc có nhịp điệu rõ ràng để mọi người cùng bước theo.

Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, Đinh Ngọc Liên và các chiến sĩ quân nhạc rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc.

Không còn sân khấu lớn, điện chiếu sáng hay những bộ nhạc cụ đầy đủ, đoàn quân nhạc phải chia thành các nhóm nhỏ đi phục vụ nhiều đơn vị. Họ mang âm nhạc đến các doanh trại, lớp học, bệnh xá và những đơn vị chuẩn bị ra trận.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn, Đinh Ngọc Liên chuyển soạn nhiều ca khúc cách mạng cho dàn kèn. Các tác phẩm như “Sông Lô”, “Chiến sĩ Việt Nam”, “Diệt phát xít”, “Qua miền Tây Bắc” và “Vì nhân dân quên mình” được quân nhạc trình diễn, cổ vũ tinh thần bộ đội.

Ông cũng chú ý đến những âm thanh rất nhỏ trong đời sống quân ngũ. Khi ấy, các đơn vị thường dùng kẻng để báo thức, tập hợp, ăn cơm hoặc đi ngủ. Nhưng tiếng kẻng dễ lẫn với kẻng của lớp Bình dân học vụ hay tổ đổi công.

Đinh Ngọc Liên bắt đầu sáng tác những bài kèn hiệu riêng. Mỗi tín hiệu có một giai điệu và chức năng khác nhau, giúp người lính nghe âm thanh là biết đơn vị đang báo thức, tập hợp hay thực hiện một nghi thức cụ thể. Những bài kèn hiệu ấy dần trở thành một phần của đời sống chính quy trong quân đội.

Ông còn sáng tác các tác phẩm khí nhạc và hành khúc như “Chiến thắng Phủ Thông”, “Hải cảng về ta”, “Vọng gác tiền tiêu” và “16 nhịp trống hành khúc”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đinh Ngọc Liên được giao xây dựng một tiểu đoàn quân nhạc để phục vụ ngày tiếp quản Thủ đô. Quân số có lúc lên đến hàng trăm người, nhưng số kèn không đủ, nhiều chiếc lại cũ hoặc hư hỏng.

Ông phải tìm cách mượn thêm kèn, tổ chức sửa chữa những chiếc bị bẹp và đánh bóng các nhạc cụ đã xỉn màu. Một số nhạc công chưa kịp học sử dụng đúng loại kèn được giao, nhưng vẫn luyện tập đội hình để bảo đảm buổi lễ diễn ra trang nghiêm.

Chiều ngày 10 tháng 10 năm 1954, tại Cột cờ Hà Nội, Đoàn Quân nhạc dưới sự chỉ huy của Đinh Ngọc Liên lại cử “Tiến quân ca”. Chín năm sau ngày Độc lập, Quốc ca vang lên giữa Thủ đô hoàn toàn giải phóng.

Ngày 1 tháng 1 năm 1955, đoàn tiếp tục tham gia cuộc duyệt binh lớn tại Quảng trường Ba Đình, chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Hà Nội.

Đinh Ngọc Liên dành phần lớn cuộc đời xây dựng lực lượng quân nhạc chính quy. Ông vừa làm nhạc trưởng, vừa hòa âm, phối khí, sáng tác và đào tạo. Ông còn giúp Bộ Công an thành lập đội quân nhạc phục vụ nghi lễ và hỗ trợ nhiều dàn nhạc hơi ở các địa phương.

Năm 1957, ông là một trong những thành viên sáng lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý.

Đinh Ngọc Liên qua đời năm 1991. Năm 2017, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật cho cụm tác phẩm nhạc nghi lễ, khí nhạc và ca khúc.

Ngày nay, tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vẫn còn lưu giữ những chiếc kèn từng được Ban Âm nhạc Giải phóng quân sử dụng trong Lễ Độc lập.

Những chiếc kèn bằng đồng có thể đã cũ. Nhưng câu chuyện về chúng vẫn mang ý nghĩa đặc biệt.

Chỉ trong vài ngày của tháng Tám năm 1945, Đinh Ngọc Liên đã giúp những nhạc công từng phục vụ chế độ cũ tìm thấy một vị trí trong hàng ngũ cách mạng. Dưới cây đũa chỉ huy của ông, những âm thanh vốn thuộc về nghi lễ cai trị đã trở thành tiếng nói của một dân tộc tự do.

Khi “Tiến quân ca” vang lên sáng ngày 2 tháng 9 năm 1945, đó không chỉ là khoảnh khắc ra đời của Quốc ca trong nghi lễ quốc gia.

Đó còn là khoảnh khắc âm nhạc lựa chọn đứng về phía nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn