ĐÌNH VÀ NHÀ THỜ TIỀN HIỀN LỖ GIÁNG - ĐIỂM SÁNG CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG.
Đình làng, những biểu tượng văn hóa sống động của cộng đồng, không chỉ là nơi thờ cúng tổ tiên, mà còn là không gian gắn kết tinh thần cộng đồng, bảo tồn những giá trị truyền thống qua nhiều thế hệ. Đến nay Đình làng Lỗ Giáng còn lưu giữ một số bản phong sắc có niên đại từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại, một tấm biển được nhà Nguyễn sắc phong với 4 chữ lớn “Mỹ tục khả gia”, tạm dịch là “Phong tục tốt đáng khen”.Nơi đây không chỉ là nơi thờ tự, mà còn là chứng nhân của lịch sử, nơi lưu giữ những câu chuyện về sự phát triển và bảo tồn di sản của cộng đồng qua bao thế kỷ.
Dấu ấn Đình làng.
Cổng tam quan của Đình và nhà thờ tiền hiền Lỗ Giáng. Ảnh: Thúy Kim
Làng Lỗ Giáng được thành lập từ đời Lê Thánh Tông 1476 do các vị tiền hiền của các tộc: Dương, Hồ, Nguyễn, Phạm, Lê từ Thanh Hóa, Nghệ An di cư vào lập nghiệp. Đến nay, có 26 chi phái tộc cùng sinh hoạt trong một đình làng. Cùng với việc lập làng, đình và nhà thờ tiền hiền Lỗ Giáng cũng được xây dựng; ban đầu dựng theo lối chòi bằng thanh tre, gồm 4 cột, 2 kèo, mái lợp tranh, phần dưới để trống, phần trên làm nơi thờ cúng. Sau đó, đình và nhà thờ tiền hiền đã qua 6 lần trùng tu, tôn tạo.
Đến năm Bảo Đại (1926), đình làng mở rộng, kiến trúc theo lối tam gian nhị hạ, có 36 cột, 4 mái lợp ngói âm dương; có cổng tam quan, gian giữa có 3 chữ “Lỗ Đình Môn” rồi đến bình phong cùng với sân ngoài, sân trong tiền đường chánh điện và hậu tẩm. Từ năm 2012, đình làng được quy hoạch với diện tích 22.476m2 (diện tích cũ 1.719m2) gồm có 9 hạng mục: cổng tam quan, cổng trụ biểu, đình làng, nhà thờ tiền hiền, tường rào, nhà trù, nhà hồi hương, nhà sinh hoạt cộng đồng, sân thể thao. Đình làng được trùng tu, phục dựng 3 lần vào năm 2012, 2016 và 2018 trên nền móng cũ, tất cả họa tiết, phù điêu, mái ngói, màu sơn… đều giữ nguyên vẹn được nét kiến trúc cổ xưa. Hiện đình làng còn lưu giữ nhiều hiện vật tiêu biểu gồm: 18 sắc phong có niên đại từ đời vua Minh Mạng đến vua Bảo Đại (sắc phong xưa nhất được ban vào năm 1823 từ đời vua Minh Mạng); tấm biển với 4 chữ vàng “Mỹ Tục Khả Gia" (tạm dịch là phong tục tốt đáng khen) được triều đình Huế sắc phong năm Khải Định thứ 10 (1925); 3 tấm biển vàng của 3 tộc Dương, Hồ, Nguyễn cùng năm tu bổ, mở rộng đình làng 1926; 1 tấm biển thép vàng của 2 tộc Lâm, Phan cúng trong lễ khánh thành cổng tam quan (1938), 4 bia đá có ghi niên đại Bảo Đại (1932).
Đình không chỉ mang đậm dấu ấn lịch sử qua các cột mốc của cái triều đại mà còn là dấu ấn của con người và thời cuộc nơi đây. Năm 1936, ông Hồ Thiêm, người làng là học sinh trường Quốc học Huế đã hưởng ứng phong trào “Sinh viên đỏ”. Nhân nghỉ hè về quê ông mang truyền đơn của tổ chức “Công hội đỏ” về rãi tại đình, kêu gọi mọi người đứng lên đấu tranh chống lại ách cai trị của thực dân Pháp. Cờ đỏ búa liềm (Cờ Đảng) còn được ông Hồ Thiêm, bí mật treo trước đình. Đầu năm 1946, tổ chức tuần lễ quyên vàng, quyên đồng cũng diễn ra tại đình và đình còn là địa điểm bầu cử Quốc hội khóa I.
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đánh Mỹ, đình luôn là nơi thường xuyên tập trung anh em du kích, được điều động giúp đỡ, phối hợp bộ đội về đóng quân dừng chân tại Đình. Đình làng Lỗ Giáng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử của đại phương trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và cả trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ. Dù có lúc, chiến tranh tàn phá nặng nề, chỉ còn sót lại cổng Tam quan, hậu tẩm đủ để đặt bát hương thờ cúng thần thành hoàng bổn xứ,…song, Đình làng Lỗ Giáng xứng đáng là “địa chỉ đỏ”, lừ nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ con cháu noi theo.
Kiến trúc đậm nét lịch sử.
Cổng ngõ (nghi môn) và tấm bình phong là hai bộ phận tất yếu trong nét kiến trúc của Đình làng Đà Nẵng. Được đặt theo thứ tự từ ngoài vào trong, ngoài cùng là cổng ngõ rồi đến bình phong án ngữ giữa lối đi chính trên trục dũng đạo. Sự xuất hiện của tấm bình phong ở vị trí này đã thể hiện sự kính ngưỡng tuyệt đối của người trần đối với thế giới thần linh. Bởi lẽ, bước vào đây người ta buộc phải rẽ sang hai bên mà không thể bước tiếp nếu muốn vào chính điện. Mặt khác, đứng ở ngoài không ai có thể nhìn thấu xuyên suốt vào điện thờ trong đình do sự che khuất của tấm bình phong.
Quy mô nhất là loại cổng tam quan được xây dựng theo kiểu thức vòm cuốn. Loại cổng này ở Đà Nẵng không nhiều, có thể kể ra như đình Lỗ Giáng, đình Quá Giáng, đình Thạch Nham. Phải nói rằng tam quan của đình Lỗ Giáng là một công trình kiến trúc tiêu biểu của cổng đình Đà Nẵng. Cổng đình được xây bằng gạch, vữa vôi với diện tích mặt bằng khá lớn. Thân cổng là một khối hình hộp chữ nhật chia thành 3 cửa theo lối vòm cuốn, 2 cửa bên đều bằng nhau cả về chiều rộng lẫn chiều cao và nhỏ hơn cửa chính. Trên mỗi cửa đều tạo cổ lâu, tạo mái và được trang trí rất cầu kỳ. Quanh 4 mặt của các lâu được chia thành các ô hộc và gắn trang trí các mảnh sành sứ theo những đề tài cổ điển như tứ hữu, tứ thời và những cảnh núi sông, muông thú. Trên nóc cổ lâu gắn trang trí hình rồng khảm sành theo chủ đề lưỡng long chầu nguyệt, với tư thế hồi long; các góc là hình tượng giao long.
Ngoài kiến trúc độc đáo, Đình làng Lỗ Giáng còn mang đậm nét biểu trưng của nghệ thuật trang trí Đình làng với không gian bên ngoài và hệ thống mái. Đứng từ xa, ta dễ dàng nhận ra các hình ảnh trang trí trên máy đình. Với là những hình ảnh quen thuộc mang đậm nét văn hóa truyền thống Việt Nam bộ tứ Long, Lân, Quy, Phụng như một nét đặc trưng của văn hóa đền đình.
Bảng xấp hạng Di tích cấp Tỉnh, Thành phố của Đình làng được trao tặng năm 2007.
Ảnh: Thúy Kim
Sự tiếp nối của thế hệ trẻ.
Đình làng đã kết hợp với địa phương tổ chức nhiều hoạt động nhằm tưởng nhớ công ơn, hướng về nghĩa cử đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Lá rụng về cội”.
Tổ chức đêm trình diễn áo dài “Mỹ tục khả gia” do UBND Phường Hòa Xuân tổ chức. Lấy cảm hứng từ sắc phong nhà Nguyễn kết hợp với hình ảnh áo dài không gian đình làng như trở thành một “sân khấu” trình diễn trang phục dân tộc Việt Nam vô cùng lộng lẫy và tràn ngập sắc màu. Với mong muốn mang đến một giá trị truyền thống trường tồn, tạo nên “mỹ tục khả gia” và cảm nhận trọn vẹn nét vàng son còn mãi của văn hóa Việt.
Bên cạnh những hoạt động mang đậm tính nghệ thuật, đình làng còn tổ chức các hoạt động lễ hội truyền thống. thực hành tín ngưỡng văn minh, trang trọng đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của người dân. Không chỉ thế, chính quyền địa phương còn tích cực tổ chức các hoạt động, chương trình hướng về cội nguồn nhằm giúp thế hệ trẻ khắc ghi đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, giúp tưởng nhớ công ơn của ông cha trong chặng đường xây dựng nước nhà.
Đình làng Lỗ Giáng như một dấu son vàng trong hành trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Một mình gồng gánh, vững chãy giữa bom đạn thể hiện cho ý chí kiên cường, bất khuất của của người dân Việt Nam. Đình không chỉ là nơi sinh ta ra mà còn là nơi nuôi ta lớn khôn, ta lớn lên với những gì thân thương nhất là miếng trầu của bà, là câu hò ru của mẹ, là hình ảnh Long Lân Quy Phụng trong các miếu đền. Dẫu ta có lớn khôn có rời xa quê hương của mình thì ta vẫn luôn khắc ghi mãi hình ảnh “giếng nước sân đình”.



