Đinh Văn Mẫu – Người anh nuôi tiếp sức cho chiến thắng Điện Biên Phủ
Đinh Văn Mẫu là một trong những chiến sĩ anh nuôi tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong suốt nhiều năm làm công tác nuôi quân, ông luôn tận tụy bảo đảm cơm, nước và lương thực đến tận chiến hào, giúp bộ đội có đủ sức khỏe để chiến đấu. Ông là minh chứng tiêu biểu cho vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng hậu cần trong chiến thắng Điện Biên Phủ.
Sinh năm 1924 trong một gia đình người Mường ở huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, Đinh Văn Mẫu nhập ngũ năm 1949. Sau thời gian chiến đấu ở bộ đội địa phương, ông được biên chế vào Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 và đảm nhiệm công tác nuôi quân.
Trong 7 năm liên tục, ông làm nhiệm vụ cấp dưỡng, phục vụ 8 chiến dịch lớn, trong đó có các chiến dịch Biên giới, Hoàng Hoa Thám, Lý Thường Kiệt và đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Dù không trực tiếp cầm súng ngoài tuyến đầu, công việc của ông luôn gắn với hiểm nguy không kém những người lính chiến đấu.
Đêm 12/3/1954, trước trận đánh mở màn vào cứ điểm Him Lam, Đinh Văn Mẫu cùng đồng đội thức trắng đêm nấu cơm, nắm thành từng nắm cơm gói lá và chuẩn bị nước uống để bộ đội mang theo khi xung phong. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo ấy, các chiến sĩ bước vào trận đánh với đầy đủ lương thực và nước uống, góp phần làm nên chiến thắng mở màn của chiến dịch.
Trong suốt chiến dịch, ông luôn xông pha mang cơm, nước đến tận chiến hào dưới mưa bom đạn. Có lúc phải vượt qua khe suối, bãi trống hoặc những đoạn hào vừa bị pháo địch bắn phá, ông vẫn tìm mọi cách đưa suất ăn đến đúng giờ cho bộ đội. Ông còn chủ động đi hái rau rừng, đào củ, lấy măng để cải thiện bữa ăn, thực hiện khẩu hiệu "Ăn no, đánh thắng".
Một kỷ vật gắn liền với ông là chiếc ống bương dùng để đựng canh và nước uống phục vụ chiến sĩ ngoài mặt trận. Hiện nay, chiếc ống bương này được lưu giữ tại Bảo tàng Hậu cần Quân đội như minh chứng cho sự hy sinh thầm lặng của những người lính hậu cần trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau chiến thắng, Đinh Văn Mẫu được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, được Đại đoàn và Trung đoàn 9 lần khen thưởng, được bầu là Chiến sĩ thi đua Đại đoàn 312 và ngày 07/5/1956 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông qua đời năm 2007.



