Cựu chiến binh

ĐINH VĂN THẮNG - NHỮNG BƯỚC CHÂN NGƯỜI LÍNH

Một tấm vải đã đi qua nhiều lần gấp mở sẽ để lại những nếp không thể làm phẳng hoàn toàn. Đời người cũng có những nếp như vậy. Chúng không phải vết thương, cũng không cần được che đi; đó là dấu hiệu cho thấy con người đã từng đi qua những chặng rất khác nhau của cuộc sống. Những năm quân ngũ đã trở thành một nếp sâu như thế trong tôi – không nằm ở bên ngoài để phô bày, mà ở trong cách nghĩ, cách nhớ và cách trân trọng những gì mình đang có.

Thanh Hóa16/09/2026Xã Thiệu Hóa (Xã Thiệu Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bàn tay của một người ở tuổi đôi mươi khác rất nhiều bàn tay khi đã đi gần hết một đời người. Những đường gân dần nổi lên, làn da đổi khác, nhưng có những điều năm tháng không thể làm mất đi: cảm giác về một quãng đời đã từng được sống bằng tất cả sức trẻ của mình. Tôi là Đinh Văn Thắng, sinh năm 1947, quê Thiệu Hóa. Năm 1967, khi khoảng hai mươi tuổi, tôi nhập ngũ. Quãng quân ngũ của tôi kéo dài đến năm 1990, trong đó đời lính gắn với Long Khánh, miền Đông Nam Bộ. Từ một chàng trai tuổi đôi mươi bước vào hàng ngũ giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang rất quyết liệt đến khi rời quân đội ở tuổi ngoài bốn mươi, tôi đã đi qua hơn hai thập niên mà trong đó đất nước đổi thay từ chiến tranh sang hòa bình, từ chia cắt đến thống nhất, rồi từ những năm hậu chiến đầy khó khăn bước dần vào thời kỳ Đổi Mới. Đến hôm nay nhìn lại, tôi mới hiểu một phần rất lớn cuộc đời mình đã song hành với chính những bước chuyển ấy.

Năm 1967, đất nước vẫn bị chia cắt, cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào những năm căng thẳng. Miền Bắc vừa sản xuất, xây dựng vừa chống chiến tranh phá hoại; ở miền Nam, cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất vẫn tiếp diễn quyết liệt. Người trẻ sống trong hoàn cảnh ấy không có nhiều khoảng trống để chỉ nghĩ về riêng mình. Tôi cũng có những mong muốn bình thường của tuổi hai mươi, có một quê hương để thương, có người thân để nhớ và có một tương lai chưa kịp định hình. Nhưng khi đất nước vẫn chưa yên, tương lai của mỗi người luôn nằm trong tương lai chung của dân tộc. Bước vào quân đội, tôi không nghĩ mình đang làm một điều khác thường. Đó là lựa chọn của rất nhiều thanh niên cùng thế hệ: khi quê hương còn cần người, mình nhận lấy phần thuộc về mình.

Thiệu Hóa ở lại phía sau kể từ ngày tôi bước vào quân ngũ, nhưng quê hương chưa bao giờ rời khỏi tôi. Đi xa mới biết có những điều tưởng quá quen nên ngày thường ít để ý, đến lúc không còn ở bên lại trở thành một phần sâu nhất trong lòng. Nỗi nhớ người thân, cảm giác thuộc về nơi mình sinh ra, mong muốn một ngày được trở về trong bình yên – tất cả đi cùng người lính qua năm tháng. Chính vì có nơi để nhớ nên càng hiểu chiến tranh lấy đi của con người điều gì; chính vì biết thế nào là xa cách nên càng khát khao ngày đất nước không còn chia đôi. Tôi bắt đầu hành trình quân ngũ bằng tâm thế ấy, chưa thể hình dung rằng con đường phía trước sẽ kéo dài đến năm 1990 và đưa mình đi qua gần trọn một giai đoạn lớn của lịch sử dân tộc.

Long Khánh, miền Đông Nam Bộ và những năm tháng trong quân ngũ

Quãng phục vụ của tôi gắn với Long Khánh, miền Đông Nam Bộ. Đó là những thông tin tôi luôn giữ nguyên khi nhắc về đời lính của mình, bởi mỗi địa danh đối với người đã từng sống và công tác ở đó không chỉ là một cái tên trên bản đồ. Tôi không gắn thêm cho bản thân những trận đánh, chiến dịch, chức vụ hay nhiệm vụ cụ thể khi những điều ấy không có trong dữ liệu được xác nhận. Nhưng việc một người lính quê Thiệu Hóa có một chặng quân ngũ gắn với miền Đông Nam Bộ đã đủ làm khoảng cách giữa quê nhà và nơi công tác trở thành một phần rất thật của đời mình. Từ miền quê Thanh Hóa đến một vùng đất xa hơn về phía Nam, người lính không chỉ đi qua khoảng cách địa lý mà còn bước sâu hơn vào cảm nhận về sự rộng dài của Tổ quốc.

Sống trong quân đội nhiều năm, tôi dần hiểu điều giữ con người đứng vững không phải lúc nào cũng là những cảm xúc mãnh liệt. Có những ngày nhiệt huyết rất rõ, nhưng cũng có vô số ngày chỉ có sự đều đặn, nhẫn nại và khả năng tự giữ mình. Quân ngũ dạy tôi sống trong khuôn khổ chung, biết rằng một tập thể không thể vận hành nếu ai cũng để tâm trạng cá nhân quyết định cách hành xử. Người lính phải học cách làm chủ mình trước tiên: biết bình tĩnh khi khó khăn, biết không để nỗi nhớ làm mình buông xuôi, biết thích nghi với hoàn cảnh và giữ được sự nghiêm túc dù cuộc sống quanh mình thay đổi. Những điều ấy ban đầu là yêu cầu, lâu dần trở thành nếp sống, rồi đến một lúc chính mình cũng không còn phân biệt đâu là điều quân đội đã rèn và đâu là tính cách của bản thân.

Hơn hai mươi năm quân ngũ khiến tôi có đủ thời gian để hiểu rằng sự bền bỉ là một phẩm chất được hình thành chậm. Nó không phải quyết tâm trong một ngày, mà là khả năng tiếp tục qua rất nhiều ngày liên tiếp. Khi chiến tranh còn kéo dài, sự kiên trì giúp người lính đứng vững trước một tương lai chưa rõ. Khi đất nước thống nhất, sự kiên trì lại cần trong công cuộc ổn định và xây dựng. Khi thời cuộc tiếp tục thay đổi, người trong hàng ngũ vẫn phải biết giữ sự tỉnh táo và thích nghi. Vì vậy, những năm ở Long Khánh và miền Đông Nam Bộ đối với tôi không chỉ được nhớ bằng một giai đoạn lịch sử, mà còn bằng một quá trình trưởng thành rất dài, trong đó con người học cách bớt hấp tấp, biết nhìn sự việc sâu hơn và hiểu rằng sức mạnh nhiều khi nằm trong khả năng bền lòng hơn là trong những phút bốc lên mạnh mẽ.

Đồng đội – những người đã cùng đi qua hai phía của lịch sử

Một chặng quân ngũ kéo dài như vậy không thể tách khỏi đồng đội. Tôi đã sống trong hàng ngũ qua nhiều năm, gặp những con người đến từ nhiều miền quê khác nhau, mỗi người có một tính cách, một hoàn cảnh và một đoạn đường riêng. Có người chỉ gặp nhau trong một quãng ngắn, có người cùng đi lâu hơn, nhưng điều còn lại không nằm ở việc đã ở cạnh nhau bao nhiêu ngày. Có những con người chỉ cần nghĩ đến là cả một thời kỳ hiện về. Bởi họ từng nhìn thấy mình khi còn rất trẻ, từng cùng chia sẻ những năm tháng chưa biết bao giờ đất nước mới thống nhất, rồi cũng từng đi qua những đổi thay khi chiến tranh đã lùi dần về phía sau.

Tình đồng đội qua một chặng dài không chỉ được tạo nên bởi những phút khó khăn. Nó còn được thử thách trong những ngày tưởng rất bình thường. Sống cạnh nhau lâu, người ta nhìn thấy cả điểm mạnh lẫn điểm chưa trọn vẹn của nhau. Chính khi ấy, sự tôn trọng mới có giá trị. Một tập thể bền không phải vì mọi người hoàn toàn giống nhau, mà vì những khác biệt vẫn có thể đứng cạnh nhau khi con người biết nghĩ đến điều chung. Tôi học được rằng có lúc một người không cần nhiều lời khuyên, chỉ cần người bên cạnh đừng quay lưng. Có khi một sự cảm thông đúng lúc còn có sức nâng đỡ lâu hơn một câu nói lớn. Tình đồng đội vì thế không phải thứ tình cảm luôn được diễn đạt thành lời; nhiều phần của nó nằm trong cách con người sống với nhau.

Nhìn lại sau nhiều thập niên, tôi thấy đồng đội đã vô tình trở thành những người giữ giúp mình một phần cuộc đời. Khi nhớ một người, ta nhớ luôn hoàn cảnh mình từng sống bên người ấy. Khi nhớ một nhóm đồng đội, cả một giai đoạn như mở ra. Thời gian có thể khiến nhiều chi tiết mờ đi, nhưng tình cảm thì thường giữ lại những nét căn bản nhất: ai từng sống nghĩa tình, ai từng mang đến cảm giác tin cậy, ai từng khiến một quãng xa quê bớt dài. Và trong ký ức về họ, tôi cũng gặp lại chính mình – từ một thanh niên hai mươi tuổi của năm 1967 đến một người lính đã đi qua ngày thống nhất và tiếp tục ở lại trong hàng ngũ rất nhiều năm sau đó.

Đi qua ngày thống nhất và những năm hậu chiến

Từ năm 1967 đến năm 1975, tôi đã ở trong quân đội suốt một chặng dài của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, tạo nên bước chuyển quan trọng nhưng chiến tranh chưa chấm dứt và đất nước vẫn chưa thống nhất. Phải đến năm 1975, non sông mới đi tới ngày toàn thắng, chấm dứt sự chia cắt kéo dài. Với một người nhập ngũ từ năm 1967, ngày đất nước thống nhất là một ranh giới rất lớn của đời lính. Trước đó, chúng tôi sống với khát vọng đoàn tụ của cả dân tộc; sau đó, một thời kỳ mới mở ra. Nhưng hòa bình không xóa ngay những hậu quả của chiến tranh, cũng không khiến nhiệm vụ của người quân nhân lập tức trở nên nhẹ nhàng.

Tôi tiếp tục ở trong quân đội nhiều năm sau ngày thống nhất. Đất nước lúc ấy phải bắt đầu khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, ổn định cuộc sống, từng bước xây dựng trong điều kiện kinh tế còn rất khó khăn. Cuối thập niên 1970, Việt Nam lại phải đối mặt với những thử thách lớn về quốc phòng tại các tuyến biên giới. Tôi chỉ nhắc đến những sự kiện đó như bối cảnh chung của đất nước trong những năm mình còn ở trong quân ngũ, không tự gắn mình với bất kỳ chiến trường hay hoạt động cụ thể nào ngoài địa bàn đã được xác nhận là Long Khánh, miền Đông Nam Bộ. Nhưng chính việc tiếp tục phục vụ trong thời hậu chiến giúp tôi hiểu sâu hơn rằng bảo vệ và xây dựng đất nước là một quá trình dài, không kết thúc ngay trong ngày tiếng súng của một cuộc chiến lớn ngừng lại.

Đến năm 1986, đất nước bắt đầu công cuộc Đổi Mới. Tôi vẫn tiếp tục phục vụ thêm bốn năm nữa và đến năm 1990 mới rời quân ngũ. Khi ấy, tôi khoảng bốn mươi ba tuổi. Từ tuổi hai mươi đến tuổi ngoài bốn mươi, gần như toàn bộ quãng thanh niên và một phần tuổi trưởng thành của tôi đã gắn với quân đội. Điều làm tôi suy nghĩ nhiều nhất khi nhìn lại không phải chỉ là số năm, mà là sự thay đổi của đất nước trong khoảng ấy. Tôi bước vào hàng ngũ khi non sông còn chia cắt, đi qua chiến tranh, chứng kiến ngày thống nhất, tiếp tục sống trong những năm hậu chiến rồi rời quân đội khi đất nước đã bước vào một thời kỳ đổi mới. Lịch sử đối với tôi vì thế không chỉ là những trang sách. Nó là khoảng thời gian mà chính tuổi tác của mình đã lớn lên cùng những biến chuyển của đất nước.

Khi một đời lính trở thành phần sâu của con người

Ngày rời quân đội, tôi không còn là chàng trai hai mươi tuổi của năm 1967. Một quãng phục vụ dài như thế đã trở thành phần nền trong tính cách và cách nhìn đời. Tôi hiểu rằng khó khăn không phải lúc nào cũng được vượt qua bằng một cú bứt phá; nhiều khi phải đi từng đoạn, giữ cho mình không nản chí rồi mới có thể qua được. Tôi cũng học cách không vội đánh giá một con người từ một khoảnh khắc, bởi bản thân đã thấy con người thay đổi rất nhiều qua năm tháng. Những gì được rèn trong tập thể – sự kiên nhẫn, khả năng thích nghi, tình cảm với đồng đội, cách biết nghĩ đến người khác – theo người lính ra khỏi quân ngũ và tiếp tục hiện diện trong đời sống thường ngày.

Hòa bình hôm nay càng khiến tôi hiểu vì sao những năm tháng đã qua đáng được nhớ bằng sự bình tĩnh chứ không phải chỉ bằng những lời xúc động. Mục đích cuối cùng của những người đi qua chiến tranh chính là để người sau không phải sống lại chiến tranh. Thế hệ trẻ hôm nay được quyền có nhiều lựa chọn hơn, được đi những con đường mà người trước từng không thể đi, được xây dựng tương lai trong một đất nước thống nhất. Đó không phải khoảng cách giữa các thế hệ mà chính là sự tiếp nối. Người trước đã sống phần thời đại của mình; người sau cần sống phần thời đại của họ. Điều quan trọng là trong những điều kiện khác nhau, con người vẫn biết giữ lòng biết ơn và không quay lưng với lịch sử.

Lịch sử càng lùi xa càng cần được kể bằng những cuộc đời thật. Một con người có thể chỉ để lại vài dòng: sinh năm nào, quê ở đâu, nhập ngũ khi nào, công tác ở đâu, rời quân đội vào năm nào. Nhưng giữa những con số ấy là hàng nghìn ngày không thể lấy lại. Có tuổi trẻ, có những lần xa quê, có sự trưởng thành, có những người đồng đội từng đứng bên cạnh, có một đất nước đổi thay trước mắt. Khi nhìn được phần đời nằm giữa những con số, người sau sẽ hiểu sự biết ơn không cần phải bắt đầu từ những điều quá lớn. Nó có thể bắt đầu từ việc không để một cuộc đời bình dị biến thành một dòng thông tin vô cảm.

Một tấm vải đã đi qua nhiều lần gấp mở sẽ để lại những nếp không thể làm phẳng hoàn toàn. Đời người cũng có những nếp như vậy. Chúng không phải vết thương, cũng không cần được che đi; đó là dấu hiệu cho thấy con người đã từng đi qua những chặng rất khác nhau của cuộc sống. Những năm quân ngũ đã trở thành một nếp sâu như thế trong tôi – không nằm ở bên ngoài để phô bày, mà ở trong cách nghĩ, cách nhớ và cách trân trọng những gì mình đang có.

Điều người đi trước có thể trao cho con cháu không nhất thiết là một lời dặn dài. Chỉ cần để họ hiểu rằng một đất nước muốn đi xa cần những con người biết quý những gì đã được đánh đổi bằng nhiều năm tháng của các thế hệ trước. Quý lịch sử không có nghĩa sống mãi trong chuyện cũ; đó là biết bước tiếp mà không coi quá khứ là thứ có thể bỏ lại. Khi người trẻ vẫn biết cúi đầu trước những điều đáng nhớ nhưng ngẩng đầu để dựng xây tương lai, sự tri ân mới có ý nghĩa trọn vẹn nhất.

Và sau tất cả, quãng đời từ Thiệu Hóa đến Long Khánh, miền Đông Nam Bộ, từ những năm chiến tranh đến những năm đất nước đổi mới, vẫn ở lại như một phần không thể tách khỏi con người tôi. Không cần thêm vào đó một chiến công chưa được xác nhận hay một câu chuyện lớn hơn sự thật. Chỉ cần nhớ đã từng có một người lính bước vào hàng ngũ ở tuổi hai mươi, đi qua nhiều bước chuyển của non sông rồi rời quân đội khi mái đầu đã không còn của một chàng trai trẻ. Một hành trình như thế tự nó đã đủ để được nhắc lại bằng sự kính trọng – như lời tri ân dành cho một thế hệ đã trao những năm tháng đẹp nhất của đời mình cho đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐINH VĂN THẮNG - NHỮNG BƯỚC CHÂN NGƯỜI LÍNH | Câu chuyện thời hoa lửa