ĐÔ ĐỐC ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ VỊ TƯỚNG TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TRƯỜNG SA
Trong biên niên sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa thiêng liêng luôn là mặt trận thử thách khốc liệt nhất về bản lĩnh, ý chí và tầm nhìn quân sự. Đô đốc, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giáp Văn Cương (1921 – 1990) – nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Quân chủng Hải quân giai đoạn 1977 – 1980 và 1984 – 1990 – là Đô đốc đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam. Ông là vị tướng trận mạc dạn dày kinh nghiệm từ chiến trường Nam Bộ, Khu 5 đến Tây Nguyên, và đặc biệt là kiến trúc sư trưởng của chiến dịch đóng giữ, xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc trên quần đảo Trường Sa, với lời thề bất tử tạc vào sóng gió Biển Đông: "Đảo là nhà, biển cả là quê hương, kiên quyết bảo vệ từng tấc đảo, sải biển của Tổ quốc".
Thập niên 1980, bối cảnh khu vực Biển Đông diễn biến hết sức phức tạp và căng thẳng:
Quần đảo Trường Sa đứng trước nguy cơ bị các thế lực nước ngoài dòm ngó, xâm lấn và chiếm đóng trái phép bằng vũ lực.
Địa bàn tác chiến cách xa đất liền hàng trăm hải lý, điều kiện tiếp tế hậu cần gian khổ tột cùng; thời tiết khắc nghiệt, sóng to gió lớn quanh năm, phương tiện tàu bè của ta lúc bấy giờ còn nhiều hạn chế so với tiềm lực không quân và hải quân đối phương.
Giữ vững Trường Sa đòi hỏi người đứng đầu Quân chủng Hải quân không chỉ có dũng khí thép mà phải có tầm nhìn chiến lược đi trước thời đại, sự quyết đoán phi thường và nghệ thuật chỉ huy chốt giữ táo bạo nhằm xác lập, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trước khi đối phương hành động.
Đô đốc Giáp Văn Cương đã gánh vác trọng trách thiêng liêng ấy, đưa ra những quyết sách mang tính bước ngoặt sinh tử đối với chủ quyền lãnh hải của non sông.
Người con Kinh Bắc dấn thân vào bão lửa Nam Bộ
Giáp Văn Cương sinh ngày 13 tháng 9 năm 1921 tại xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang – vùng đất giàu truyền thống yêu nước và thượng võ:
Lớn lên trong thời kỳ đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, ông sớm giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia phong trào Việt Minh từ trước năm 1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và phong trào Nam tiến, người thanh niên Bắc Giang hăng hái gia nhập đoàn quân chi viện cho miền Nam ruột thịt.
Trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), ông trực tiếp cầm súng chiến đấu kiên cường trên chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, lần lượt đảm nhận các cương vị: Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 và Trung đoàn 803 (Liên khu 5 lừng danh), tham gia nhiều trận công đồn, phục kích bẻ gãy các cuộc hành quân Atlante của Pháp.
Vị tướng dày dạn trận mạc thời kỳ chống Mỹ
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra Bắc và tiếp tục được đào tạo nâng cao về nghệ thuật quân sự:
Đầu thập niên 1960, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, ông tiếp tục trở lại chiến trường miền Nam, giữ các trọng trách: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao Vàng), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 5, rồi Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà.
Ông nổi tiếng với phong cách chỉ huy quyết đoán, bám sát bộ đội nơi tiền duyên, luôn có mặt ở những điểm nóng ác liệt nhất của chiến trường miền Trung, chỉ huy hàng loạt chiến dịch lớn tiêu hao, tiêu diệt sinh lực quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn.
Năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp tham gia chỉ đạo các kế hoạch tác chiến chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Đô đốc đầu tiên và tầm nhìn chiến lược bảo vệ Trường Sa
Từ năm 1977, ông chuyển sang lãnh đạo lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam, đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Quân chủng Hải quân qua hai giai đoạn (1977 – 1980 và 1984 – 1990). Năm 1988, ông vinh dự được Đảng và Nhà nước phong quân hàm Đô đốc (quân hàm cao nhất của Hải quân nhân dân Việt Nam):
Nhãn quan dự báo thiên tài: Ngay từ giữa những năm 1980, nhận định sớm nguy cơ Biển Đông dậy sóng, Đô đốc Giáp Văn Cương đã kiên trì đề xuất với Bộ Chính trị và Bộ Tổng Tham mưu về kế hoạch khẩn cấp tăng cường lực lượng bảo vệ quần đảo Trường Sa. Ông khẳng định: "Nếu để mất Trường Sa, chúng ta sẽ có tội lớn với lịch sử và con cháu mai sau".
Chiến dịch CQ-88 (Chủ quyền 88) thần tốc: Cuối năm 1987 đầu năm 1988, ông trực tiếp chỉ đạo và điều hành chiến dịch đưa các biên đội tàu hải quân vượt sóng to gió lớn ra đóng giữ hàng loạt bãi cạn, rạn san hô chìm có vị trí chiến lược xung yếu: Thuyền Chài, Đá Tây, Đá Lát, Núi Le, Tiên Nữ, Tốc Tan... Nhờ hành động đón đầu thần tốc, quyết đoán của ông, ta đã làm chủ và giữ vững một hệ thống đảo, đá chìm rộng lớn trước khi đối phương can thiệp.
Xây dựng pháo đài thép trên biển: Ông là người đặt nền móng và chỉ đạo thiết kế hệ thống nhà giàn DK1 (nhà dịch vụ kinh tế – khoa học kỹ thuật) trên thềm lục địa phía Nam, tạo thành "mắt thần" bảo vệ vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thiêng liêng của đất nước.
Lời thề giữ đảo bất tử: Sau sự kiện Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988, Đô đốc Giáp Văn Cương đích thân ra thị sát trận địa Trường Sa Lớn. Giữa bão cát, sóng gầm và trước hàng quân danh dự, ông đã dõng dạc đọc lời thề thiêng liêng:
"Chúng ta xin thề trước hương hồn của tổ tiên ta, xin thề trước hương hồn của các cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc: Xin hứa với đồng bào cả nước, quyết tâm bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta!"
Trọn đời cống hiến và sự ra đi thanh thản
Những năm tháng bôn ba trên biển khơi, dầm mình trong gió mặn và áp lực nặng nề của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh hải đã vắt kiệt sức lực của người chỉ huy quả cảm.
Đô đốc Giáp Văn Cương từ trần vào ngày 21 tháng 3 năm 1990 tại Hà Nội, hưởng thọ 69 tuổi. Trước lúc đi xa, tâm nguyện cuối cùng của ông vẫn luôn hướng trọn về Trường Sa và những người chiến sĩ hải quân đang ngày đêm đối mặt với đầu sóng ngọn gió.
Mốc son phong tặng danh hiệu Anh hùng năm 2010
Cuộc đời và sự nghiệp của Đô đốc Giáp Văn Cương là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước nồng nàn, tư duy quân sự kiệt xuất và bản lĩnh kiên cường của một danh tướng thời đại Hồ Chí Minh.
Ghi nhận những chiến công đặc biệt xuất sắc và đóng góp mang tầm vóc chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng, chiến đấu và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, năm 2010, Đô đốc Giáp Văn Cương đã vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý nhất: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Ông cũng được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý:
Huân chương Độc lập hạng Nhất;
Huân chương Quân công hạng Nhất;
Huân chương Chiến công hạng Nhất;
Huân chương Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hạng Nhất.
Để đời đời ghi nhớ công ơn người vị Đô đốc huyền thoại:
Tên tuổi của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giáp Văn Cương được trân trọng đặt cho các tuyến đường lớn tại thành phố Đà Nẵng, thành phố Bắc Giang (quê hương ông) cùng nhiều địa phương ven biển trên cả nước.
Hình ảnh vị tướng đứng hiên ngang trước cột mốc chủ quyền Trường Sa mãi mãi là ngọn hải đăng soi sáng niềm tin và ý chí giữ đảo của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Hải quân.
Cuộc đời của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giáp Văn Cương là một bản tráng ca hào hùng gắn liền với số phận biển đảo Tổ quốc. Từ người chiến sĩ Nam tiến đến vị Đô đốc đầu tiên của Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam, tầm nhìn chiến lược, lòng quả cảm và quyết sách bảo vệ quần đảo Trường Sa của ông mãi mãi tạc vào non sông gấm vóc, là niềm kiêu hãnh trường tồn của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.



