Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đỗ Thế Chấp – Người lính Khu 5 trong những trận đánh giữ vùng căn cứ Quảng Nam

Đỗ Thế Chấp (1922–1992), bí danh Đỗ Thế Mười, Đỗ Thế Diệm, thường gọi Mười Chấp, quê xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, Quảng Nam. Ông tham gia cách mạng từ năm 16 tuổi, từng bị thực dân Pháp bắt giam. Sau Hiệp định Genève 1954, ông được phân công ở lại miền Nam, lần lượt giữ các chức vụ Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ, Trưởng Ban công tác vùng hậu địch, Chính trị viên Tỉnh đội và Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông nổi bật ở khả năng xây dựng cơ sở trong lòng địch, tổ chức chiến tranh du kích và chỉ huy chống càn. Ông trực tiếp chỉ đạo nhiều trận đánh lớn tại Tam Kỳ và vùng Nam Quảng Nam, trong đó có trận đánh kho xăng gần 2 triệu lít và những trận chống càn tháng 5/1967. Năm 1975, ông tham gia chỉ đạo giải phóng Quảng Tín; ngày 10/4/2001 được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Hưng Yên21/08/2026Xã Lam Sơn (Xã Lam Sơn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thời kỳ lịch sử

Kháng chiến chống Pháp và đặc biệt là kháng chiến chống Mỹ tại Khu 5 – Quảng Nam – Tam Kỳ, từ sau Hiệp định Genève 1954 đến mùa Xuân 1975.
1. Người con đất Tam Xuân

Đỗ Thế Chấp sinh ngày 10/12/1922 tại xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, Quảng Nam.

Ông sinh ra trên một vùng đất mà lịch sử cách mạng Quảng Nam đã sớm in dấu.

Từ khi còn rất trẻ, Đỗ Thế Chấp đã tham gia hoạt động cách mạng.

16 tuổi.

Đó là độ tuổi mà nhiều người còn đang học hành.

Nhưng với chàng trai Quảng Nam ấy, cuộc đấu tranh chống thực dân đã trở thành con đường của cuộc đời.

Ông sớm bước vào hoạt động bí mật.

Và cũng sớm nếm trải sự đàn áp của đối phương.


2. Nhà tù Vĩnh Điện và Hội An

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Đỗ Thế Chấp từng bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao Vĩnh Điện và Hội An.

Nhà tù không làm ông rời bỏ con đường đã chọn.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tiếp tục hoạt động và lần lượt đảm nhiệm các nhiệm vụ trong tổ chức cách mạng Quảng Nam.

Ông từng là:

Ủy viên Huyện ủy Tam Kỳ.

Ủy viên Thường vụ Tỉnh đoàn Thanh niên cứu quốc Quảng Nam.

Những chức vụ ấy đặt ông ngày càng sâu vào phong trào cách mạng của địa phương.

https://images.openai.com/static-rsc-4/69PwzpQIWQr9C2uvL86sVO8uuMsCLUCb_PfjKv1kjNXTG0S59hYuMtP0sWZ_jnXCw0O_Mj8x0LWix-BRE2SBtuY4Q7wM3itvD3RzPedSlbbbLWXgIqH9UDAajBUhzybBuH2Oqg0RaTbyoLTvbs1y4scJUoJn55Y6HluRiC32enBSYngJsr5ew3T0Eujikuw7?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/wyQvOO8VdRr-i6H1bfm1EbVLFOHyJ0c3jasuSKpYeQ9YSfsZWwynt2AvLGyMd_5eTtFEEAi3x-0pBz4R1t5Fa6KAUX3sjFN_2C7R6T3LyigcloecjXZ_awdJ7cKsbfpEZvQl2KRCYPY8koQU7wPNnM3r7NNQPzee7x9ww6Jfiud67YtuksIU25aym1ZFcwog?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/nHhvkT3cq0Spz4f218TysigeemUcBSh1W67SAg5FH1vfB2He6F5ZbQap-J0SXz0qHnrmnuto2DcrTAGQxX_ZITKKlOWRphYb0KKQJlh6rTJFg4E2v_mkrxlF57cmr2rrPukt1Hcya4nhb3HdH3aBx8de4_XzXN5Kor9Ggp35WcfRB6yZg2kTQmUcC0nXu1tr?purpose=fullsize

Chú thích: Không gian Quảng Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp – địa bàn hoạt động cách mạng của Đỗ Thế Chấp.
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng; tư liệu lịch sử Quảng Nam.


3. Cái tên “Mười Chấp”

Tên khai sinh của ông là Đỗ Điện.

Khi hoạt động cách mạng, ông lấy tên Đỗ Thế Chấp.

Về sau, ông thường được gọi là:

Mười Chấp.

Cái tên này gắn với thời gian ông hoạt động tại Khu ủy Khu 5 và vị thứ trong một gia đình có mười anh em.

“Mười Chấp” rồi trở thành cái tên mà đồng đội, nhân dân và cả những người viết về lịch sử Quảng Nam nhớ đến ông.

Một cái tên giản dị.

Nhưng phía sau nó là cả một thời kỳ chiến đấu.


4. Năm 1954 – quyết định ở lại

Hiệp định Genève được ký kết.

Đất nước tạm thời chia làm hai miền.

Nhiều cán bộ, chiến sĩ tập kết ra miền Bắc.

Nhưng Đỗ Thế Chấp nhận một nhiệm vụ khác:

ở lại miền Nam.

Nhiệm vụ của ông là:

xây dựng phong trào cách mạng.

Đây là một quyết định có ý nghĩa đặc biệt.

Bởi những năm sau 1954 là thời kỳ vô cùng khó khăn đối với lực lượng cách mạng miền Nam.

Cơ sở bị truy quét.

Cán bộ bị bắt.

Nhiều người bị giết.

Phong trào phải chuyển vào hoạt động bí mật.

Và chính trong giai đoạn ấy, Mười Chấp bắt đầu trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Nam Quảng Nam.


5. Bám đất, bám dân

Sau 1954, Đỗ Thế Chấp lần lượt giữ những vị trí:

Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ.

Trưởng Ban công tác vùng hậu địch.

Chính trị viên Tỉnh đội.

Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam.

Điểm chung của những nhiệm vụ ấy là:

phải bám địa bàn.

Không thể chỉ ngồi trong căn cứ.

Không thể chỉ chỉ đạo từ xa.

Muốn xây dựng phong trào phải hiểu:

dân ở đâu.

địch ở đâu.

cơ sở nào còn.

cơ sở nào đã bị lộ.

đường nào có thể đi.

đâu là vùng có thể xây dựng căn cứ.

Đó chính là sở trường của Mười Chấp.


6. Xây dựng căn cứ giữa vùng địch

Một trong những vấn đề sống còn của cách mạng Quảng Nam là xây dựng được những vùng đứng chân.

Tại khu vực Tam Kỳ, lực lượng cách mạng từng lựa chọn vùng Tứ Mỹ – Núi Chúa, sau đó phát triển căn cứ về các thôn Phú Hòa, Trường Cửu, Đức An thuộc Kỳ Trà và Ngọc Anh thuộc Kỳ Quế.

Địa hình ở đây có rừng núi, sông suối và nhiều đường liên kết với vùng giải phóng.

Nhân dân có truyền thống cách mạng và trở thành hậu thuẫn quan trọng cho căn cứ.

Đỗ Thế Chấp là một trong những cán bộ lãnh đạo quá trình xây dựng hệ thống căn cứ và lực lượng cách mạng quanh Tam Kỳ.

Đây không chỉ là chuyện:

tìm một nơi để đóng quân.

Mà là tạo ra một không gian có thể:

nuôi quân.

che giấu cán bộ.

huấn luyện lực lượng.

tiếp tế.

tổ chức chiến đấu.

Và từ đó:

tấn công trở lại vùng địch.


7. Mười Chấp và nghệ thuật chiến tranh du kích

Theo tư liệu của Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, Đỗ Thế Chấp nổi bật về vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng và chỉ đạo chiến tranh du kích, diệt ác, phá kềm.

Đó là kiểu chiến tranh mà người chỉ huy phải hiểu rất rõ địa bàn.

Một trận đánh có thể không bắt đầu bằng tiếng súng.

Nó có thể bắt đầu bằng:

một cơ sở cung cấp tin.

Một người dân quan sát địch.

Một cán bộ bí mật đưa tin.

Một con đường được mở.

Một kho lương thực được chuẩn bị.

Một đơn vị địch bị cô lập.

Rồi mới đến:

trận đánh.

Đỗ Thế Chấp chính là kiểu cán bộ trưởng thành từ phương thức chiến tranh ấy.


8. Một mạng lưới ngay trong lòng địch

Mười Chấp không chỉ xây dựng lực lượng ở vùng căn cứ.

Ông còn tìm cách đưa người vào ngay trong bộ máy của đối phương.

Một trường hợp đặc biệt là Nguyễn Lương Y.

Theo tư liệu của thành phố Đà Nẵng, Đỗ Thế Chấp đã đưa Nguyễn Lương Y vào làm thư ký riêng cho tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Vùng 1 chiến thuật, từ đó khai thác nguồn tin tình báo của đối phương.

Đây là một phương thức hoạt động cực kỳ nguy hiểm.

Bởi người đưa tin phải:

giữ vỏ bọc.

tiếp cận đối phương.

thu thập thông tin.

bí mật chuyển tin về.

Chỉ một sơ suất:

cả mạng lưới có thể bị phá vỡ.


9. Mười Chấp trực tiếp đi vào sào huyệt địch

Điều đặc biệt ở Đỗ Thế Chấp là ông không chỉ giao nhiệm vụ cho cấp dưới.

Theo tư liệu địa phương, ông nhiều lần cải trang, đột nhập vào tận sào huyệt của địch để nắm tình hình và tổ chức những trận đánh bất ngờ.

Một cán bộ cấp tỉnh.

Nhưng có lúc phải tự mình đi vào nơi đối phương kiểm soát.

Quan sát.

Ghi nhớ.

Đánh giá lực lượng.

Rồi trở về.

Sau đó:

ra quyết định.

Đó là công việc đòi hỏi không chỉ lòng dũng cảm mà còn khả năng giữ bình tĩnh rất cao.


10. 12 chi bộ hoạt động hợp pháp

Một trong những thành tích đáng chú ý của Đỗ Thế Chấp là xây dựng được 12 chi bộ Đảng hợp pháp hoạt động trong lòng địch trong những năm chống Mỹ.

Điều này cho thấy chiến tranh Quảng Nam không chỉ diễn ra ở rừng núi.

Nó còn diễn ra:

trong làng.

ngoài chợ.

trong các khu dân cư.

ngay giữa những vùng địch kiểm soát.

Một chi bộ tồn tại được trong điều kiện ấy có nghĩa là:

cơ sở vẫn còn.

phong trào vẫn còn.

niềm tin của nhân dân vẫn còn.

Và đó chính là nền tảng để lực lượng vũ trang có thể hoạt động lâu dài.


11. Trận đánh kho xăng gần 2 triệu lít

Một trong những chiến công nổi bật gắn với Đỗ Thế Chấp là trận đánh vào kho xăng của địch ở Tam Kỳ.

Mục tiêu chứa gần:

2 triệu lít xăng.

Đây không đơn thuần là một kho nhiên liệu.

Đó là nguồn bảo đảm cho:

xe cơ giới.

thiết giáp.

máy bay.

hoạt động quân sự của đối phương.

Lực lượng cách mạng tổ chức đánh vào kho.

Kho xăng bốc cháy.

Một lượng nhiên liệu khổng lồ bị phá hủy.

Đồng thời, trận đánh loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm quân địch theo các tư liệu địa phương.


12. “Miền Bắc gọi, Tam Kỳ trả lời”

Chiến công ấy có tiếng vang lớn.

Báo Đà Nẵng dẫn lại rằng ngay sau trận đánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biểu dương trên Đài Tiếng nói Việt Nam với câu:

“Miền Bắc gọi, Tam Kỳ trả lời...”

Đó không chỉ là lời khen dành cho một trận đánh.

Nó cho thấy ý nghĩa của việc một lực lượng địa phương tại Tam Kỳ có thể đánh trúng một mục tiêu quan trọng của đối phương ngay trong vùng kiểm soát của họ.

Với Đỗ Thế Chấp, đó là kết quả của:

cơ sở.

trinh sát.

tổ chức.

lực lượng.

Và khả năng lựa chọn đúng thời điểm.

https://images.openai.com/static-rsc-4/8U6ZE8nk3-7UMBHAsOY4p4hu7r-mMb_Yx6G1MZcoswLo2pqcxKiEWGpIlwkojGyppbPobP8zqqRCVAPkxZl_2f_Fh652Cyp1aYbuC9uvAKOY7L9lIDhx7fp7L3xm-OaxYV4ag3TBKXGkA295nghpSEr0ZjkeBRsiCaMxoH6RvieQxhkaacPX2xVTNCJFIRVw?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/hOXZmudx0F7SxpaijM2v5HrE46cDF9hCerVHWtNv1vJzVWTQn-QW0SA9FlwzCExDQEsIYCCXZnA3rIxhXf34XAJQHjT8dbpB0CvwAoBZa28ZgrqqDJuheh-GOj_DARX8Rj1OPjoRY1JOD7-4ZnGvBYMAivseuT5dmDdGMhunzQ5oAVIKDz6LoNU-Jj9RPqQF?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/nHhvkT3cq0Spz4f218TysigeemUcBSh1W67SAg5FH1vfB2He6F5ZbQap-J0SXz0qHnrmnuto2DcrTAGQxX_ZITKKlOWRphYb0KKQJlh6rTJFg4E2v_mkrxlF57cmr2rrPukt1Hcya4nhb3HdH3aBx8de4_XzXN5Kor9Ggp35WcfRB6yZg2kTQmUcC0nXu1tr?purpose=fullsize

Chú thích: Tam Kỳ – một trong những địa bàn chiến đấu trọng yếu của Quảng Nam, nơi lực lượng cách mạng tổ chức nhiều trận đánh vào các mục tiêu quân sự của đối phương.
Nguồn: Báo Đà Nẵng; Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng.


13. Tháng 5/1967 – trận chống càn kéo dài

Nếu trận kho xăng cho thấy khả năng đánh vào hậu cần, thì những trận tháng 5/1967 cho thấy khả năng giữ căn cứ và chống càn của lực lượng địa phương.

Địch mở các cuộc hành quân vào khu vực:

Tam Trà.

Kỳ Yên.

Kỳ Quốc.

Đây là những vùng liên quan trực tiếp đến hệ thống căn cứ và hành lang hoạt động của lực lượng cách mạng.

Đỗ Thế Chấp chỉ huy lực lượng bộ đội địa phương phối hợp với du kích:

đánh liên tục.

chống càn kéo dài.

giữ địa bàn.

Theo tư liệu chính thức của thành phố Đà Nẵng, các lực lượng đã loại khỏi vòng chiến đấu 750 quân địch, phá hủy 2 khẩu pháo 105 mm, bắn cháy 5 máy bay HU-1A và “tàu rọ”, đồng thời phá hủy 40 xe M113.


14. Giữ vùng căn cứ bằng cách nào?

Một vùng căn cứ không thể chỉ giữ bằng một trận đánh.

Địch có thể:

càn hôm nay.

càn ngày mai.

đưa xe bọc thép vào.

gọi pháo binh.

gọi máy bay.

Vì thế, lực lượng cách mạng phải:

phân tán.

luồn sâu.

bám dân.

chờ thời cơ.

đánh vào đội hình địch.

rút khỏi nơi nguy hiểm.

rồi quay lại.

Chiến tranh du kích là cuộc đấu về:

sức bền.

Và chính ở điểm này, vai trò của người chỉ huy như Mười Chấp trở nên đặc biệt quan trọng.


15. Bộ đội và du kích cùng đánh

Một đặc điểm trong những trận chiến đấu ở Quảng Nam là sự phối hợp giữa:

bộ đội địa phương

du kích.

Bộ đội có khả năng tập trung lực lượng.

Du kích nắm địa bàn.

Nhân dân cung cấp thông tin.

Cơ sở cách mạng bảo đảm hậu cần.

Tất cả tạo thành một mạng lưới.

Đỗ Thế Chấp là một cán bộ có khả năng kết nối những thành phần ấy thành sức mạnh chiến đấu.

Đó cũng là lý do những vùng căn cứ có thể tồn tại lâu dài dù chịu sức ép quân sự rất lớn.


16. Một người chỉ huy không tách khỏi nhân dân

Đối với Mười Chấp, chiến tranh không chỉ là chuyện giữa:

ta và địch.

Mà còn là cuộc đấu tranh để giành và giữ:

lòng dân.

Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng nhấn mạnh ông có năng lực đặc biệt trong vận động quần chúng và xây dựng cơ sở cách mạng.

Bởi nếu không có dân:

không có người dẫn đường.

Không có nơi trú.

Không có lương thực.

Không có tin tức.

Không có mạng lưới.

Và cuối cùng:

không có căn cứ.


17. Những năm tháng khốc liệt nhất

Từ giữa thập niên 1960, chiến trường Quảng Nam trở nên cực kỳ ác liệt.

Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam.

Các căn cứ quân sự lớn hình thành ở Đà Nẵng và Chu Lai.

Quảng Nam trở thành một trong những địa bàn trọng điểm của chiến tranh.

Đối phương muốn biến vùng này thành vành đai bảo vệ các căn cứ quân sự.

Cách mạng lại tìm cách:

phá vành đai ấy.

Tam Kỳ và vùng Nam Quảng Nam vì vậy trở thành chiến trường liên tục.

Và Mười Chấp là một trong những người đứng ở trung tâm của cuộc đấu ấy.


18. Không chỉ đánh địch – còn phải giữ phong trào

Một cán bộ như Đỗ Thế Chấp phải cùng lúc giải quyết nhiều việc:

xây dựng cơ sở.

bảo vệ cán bộ.

tổ chức lực lượng.

chỉ đạo chiến đấu.

nắm tình hình địch.

vận động nhân dân.

Một trận đánh thắng chưa đủ.

Sau trận đánh phải:

giữ được dân.

giữ được cơ sở.

giữ được cán bộ.

giữ được căn cứ.

Đó mới là cách một phong trào tồn tại trong chiến tranh kéo dài.


19. Những năm cuối chiến tranh

Đến đầu thập niên 1970, chiến trường Quảng Nam tiếp tục diễn biến phức tạp.

Đỗ Thế Chấp vẫn giữ vai trò lãnh đạo cấp tỉnh.

Ông tiếp tục chỉ đạo xây dựng vùng căn cứ và chuẩn bị lực lượng cho những bước phát triển mới.

Trong khi đó, cục diện chiến tranh bắt đầu thay đổi.

Sau Hiệp định Paris 1973, tương quan lực lượng ngày càng có lợi cho cách mạng.

Quảng Nam trở thành một trong những địa bàn được chuẩn bị cho thời cơ lớn.


20. Mùa Xuân 1975

Đầu năm 1975, thời cơ chiến lược xuất hiện.

Quân và dân Quảng Nam bước vào chiến dịch giải phóng tỉnh.

Tháng 3/1975, chiến dịch Tiên Phước – Tam Kỳ được mở.

Mục tiêu là:

tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch.

phá hủy phương tiện chiến tranh.

giải phóng Tiên Phước – Phước Lâm.

mở rộng vùng giải phóng.

tạo thế bao vây Tam Kỳ.

Đỗ Thế Chấp lúc này là Phó Bí thư Tỉnh ủy, phụ trách bộ phận thường trực cùng Nguyễn Đức Bốn.


21. Từ căn cứ đến thế tiến công

Điều đặc biệt là những căn cứ mà cách mạng đã kiên trì xây dựng suốt nhiều năm nay trở thành:

bàn đạp tiến công.

Đây chính là ý nghĩa của việc giữ căn cứ.

Không phải chỉ để tồn tại.

Mà để đến một thời điểm:

từ căn cứ bước ra giải phóng vùng đồng bằng.

Ngày 10/3/1975, Tiên Phước – Phước Lâm được giải phóng.

Chiến thắng mở ra điều kiện thuận lợi để tiến xuống các vùng đồng bằng và hướng về Tam Kỳ.


22. Ngày 24/3/1975 – Tam Kỳ được giải phóng

Sáng 24/3/1975, cuộc tiến công phát triển nhanh.

Đến 10 giờ 30 phút, thị xã Tam Kỳ hoàn toàn được giải phóng.

Đây là một bước ngoặt lớn.

Một tỉnh lỵ trên Quốc lộ 1 đầu tiên ở miền Nam được giải phóng.

Và từ Tam Kỳ:

cánh cửa tiến ra toàn tỉnh mở rộng.

Những năm tháng bám đất, xây dựng căn cứ và chiến đấu của Mười Chấp cùng đồng đội đã đi đến một kết quả mà họ chờ đợi suốt hơn hai mươi năm.


23. Tỉnh đường Quảng Tín

Trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, Đỗ Thế Chấp là một trong những cán bộ chỉ huy việc giải phóng Tỉnh đường Quảng Tín.

Đó là hình ảnh hoàn toàn khác so với những năm ông phải:

cải trang.

đột nhập.

xây dựng cơ sở bí mật.

trốn tránh những cuộc càn quét.

Giờ đây:

cơ quan đầu não của đối phương đã bị đánh chiếm.

Thế trận đã đảo ngược.


24. Ngày 26/3 – Quảng Nam hoàn toàn giải phóng

Sau khi Tam Kỳ được giải phóng, lực lượng cách mạng tiếp tục truy kích đối phương.

Các địa phương:

Lý Tín.

Chu Lai.

Tuần Dưỡng.

Thăng Bình.

Quế Sơn.

lần lượt được giải phóng.

Ngày 26/3/1975, toàn tỉnh Quảng Nam được giải phóng.

Từ đây, Quảng Nam trở thành bàn đạp quan trọng để tạo thế bao vây Đà Nẵng.

Chỉ ba ngày sau:

Đà Nẵng được giải phóng.


25. Một vòng tròn của lịch sử

Có một hình ảnh rất đáng nhớ trong cuộc đời Đỗ Thế Chấp.

Năm 1954:

ông ở lại miền Nam khi đất nước chia cắt.

Những năm sau đó:

ông xây dựng căn cứ trong vùng địch.

1965–1967:

ông chỉ đạo những trận đánh lớn ở Tam Kỳ và Nam Quảng Nam.

1975:

chính những vùng căn cứ ấy trở thành bàn đạp để giải phóng tỉnh.

Từ:

giữ đất

đến:

giải phóng đất.

Đó là hành trình hơn hai mươi năm.


26. Sau ngày đất nước thống nhất

Sau năm 1975, Đỗ Thế Chấp tiếp tục công tác.

Nhưng cuộc đời ông chưa dừng lại ở đó.

Năm 1982, khi đã khoảng 60 tuổi, ông vẫn tình nguyện thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Nước bạn trao tặng ông Huân chương Ăngko.

Một người đã trải qua hàng chục năm chiến tranh vẫn tiếp tục nhận nhiệm vụ khi tuổi đã cao.

Đó là một phần khác trong cuộc đời Mười Chấp.


27. Những năm cuối đời

Đỗ Thế Chấp qua đời ngày 29/1/1992 tại Tam Kỳ, Quảng Nam, do tuổi cao sức yếu.

Ông hưởng thọ 69 tuổi.

Nhưng những trận đánh và những năm tháng xây dựng cơ sở của ông vẫn được nhắc lại trong lịch sử địa phương.

Đặc biệt, câu chuyện về Mười Chấp và một thời đã được những người từng sống cùng ông ghi lại, qua đó cho thấy không chỉ một cá nhân mà cả một thế hệ cán bộ Quảng Nam đã bám đất, bám dân trong những năm tháng khắc nghiệt nhất.


28. Danh hiệu Anh hùng

Ngày 10/4/2001, gần một thập niên sau khi ông qua đời, Đỗ Thế Chấp được truy tặng danh hiệu:

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Danh hiệu ấy ghi nhận một cuộc đời mà phần lớn gắn với:

Quảng Nam.

Khu 5.

Tam Kỳ.

vùng căn cứ.

chiến tranh du kích.

những năm tháng chống Mỹ.


29. Vì sao Đỗ Thế Chấp là nhân vật tiêu biểu của Phần XVI?

Trong XVI. NHÂN VẬT TỪ CÁC CHIẾN TRƯỜNG KHU 5 – QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG, Đỗ Thế Chấp là một nhân vật rất đúng trọng tâm.

Ông không phải nhân vật được đưa vào chỉ vì quê quán.

Ông thực sự hoạt động và chiến đấu tại:

Tam Kỳ.

Nam Quảng Nam.

Quảng Tín.

Khu 5.

Ông trực tiếp xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng, chỉ đạo chiến tranh du kích và tham gia chỉ huy giải phóng tỉnh năm 1975.


30. Người giữ căn cứ cũng là người mở đường giải phóng

Tên câu chuyện này là:

“Người lính Khu 5 trong những trận đánh giữ vùng căn cứ Quảng Nam.”

Nhưng nhìn toàn bộ cuộc đời Mười Chấp, có thể thấy ông không chỉ giữ căn cứ.

Ông còn:

xây dựng căn cứ.

mở rộng căn cứ.

bảo vệ căn cứ.

từ căn cứ đánh ra.

Và cuối cùng:

từ căn cứ tiến lên giải phóng Tam Kỳ và Quảng Nam.

Đó mới là mạch chính của câu chuyện.


31. Người chỉ huy đi trước một bước

Mười Chấp có một đặc điểm nổi bật:

ông thích nắm tình hình tận nơi.

Không chỉ chờ báo cáo.

Ông nhiều lần cải trang, đi sâu vào vùng địch để quan sát.

Điều đó giúp ông hiểu được:

địch bố trí thế nào.

địch đang chuẩn bị gì.

đâu là điểm yếu.

đâu là thời cơ.

Rồi từ đó tổ chức những trận đánh bất ngờ.

Đây là một trong những phẩm chất khiến ông được đánh giá là cán bộ giàu mưu lược và sáng tạo trong chỉ đạo chiến tranh du kích.


32. Người của những ngày khó khăn nhất

Nếu chọn một giai đoạn để nhớ về Đỗ Thế Chấp, đó có lẽ là những năm:

1954–1967.

Đó là lúc cách mạng miền Nam gặp những thử thách khốc liệt.

Không có những chiến dịch lớn liên tục.

Không có ưu thế về vũ khí.

Không có những vùng giải phóng rộng lớn.

Chỉ có:

cơ sở bí mật.

nhân dân.

cán bộ.

du kích.

rừng núi.

Và lòng tin.

Mười Chấp là một trong những người đã giúp giữ cho ngọn lửa ấy không tắt ở Nam Quảng Nam.


33. Những trận đánh chỉ là phần nổi

Khi đọc về chiến công của Đỗ Thế Chấp, người ta dễ nhớ đến:

2 triệu lít xăng.

750 quân địch.

2 khẩu pháo 105 mm.

5 máy bay.

40 xe M113.

Nhưng phía dưới những con số ấy là hàng năm trời:

xây dựng cơ sở.

vận động quần chúng.

trinh sát.

chuẩn bị lực lượng.

bảo đảm hậu cần.

tổ chức trận đánh.

Đó mới là phần khó nhất của chiến tranh.


34. Lời kết – Từ người ở lại đến người chứng kiến ngày giải phóng

Năm 1954, khi nhiều người lên đường tập kết ra Bắc, Đỗ Thế Chấp ở lại.

Ông ở lại với một nhiệm vụ tưởng như rất đơn giản:

giữ phong trào.

Nhưng để giữ được phong trào ở Nam Quảng Nam, ông phải làm nhiều hơn thế.

Ông phải xây dựng cơ sở.

Phải tìm căn cứ.

Phải bám dân.

Phải tổ chức lực lượng.

Phải cải trang đi vào vùng địch.

Phải đưa người vào bộ máy đối phương.

Phải chỉ huy những trận đánh.

Phải chống những cuộc càn quét kéo dài.

Chú thích: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Thế Chấp (Mười Chấp) – người cán bộ gắn bó lâu dài với chiến trường Tam Kỳ và Nam Quảng Nam.
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng; Báo Quảng Nam; tư liệu lịch sử địa phương.

Rồi đến năm 1975, những vùng đất mà ông từng phải giữ bằng mọi giá lại trở thành bàn đạp cho cuộc tiến công giải phóng Quảng Nam.

Ngày 24/3/1975, Tam Kỳ được giải phóng.

Ngày 26/3, toàn tỉnh Quảng Nam được giải phóng.

Hơn hai mươi năm trước đó, Mười Chấp từng phải sống trong bóng tối của hoạt động bí mật.

Đến mùa Xuân 1975, ông đã đứng trong bộ phận chỉ đạo giải phóng chính vùng đất mà mình từng chiến đấu để giữ từng cơ sở, từng làng, từng căn cứ.

Đó là một vòng tròn rất đẹp của lịch sử:

người ở lại năm 1954 đã chứng kiến ngày quê hương được giải phóng năm 1975.

Đỗ Thế Chấp mất năm 1992.

Nhưng tên Mười Chấp vẫn còn trong ký ức của những người Quảng Nam từng sống qua chiến tranh – như một biểu tượng của lớp cán bộ bám đất, bám dân, giữ căn cứ và đánh giặc bằng cả mưu lược lẫn lòng can đảm.

Đỗ Thế Chấp – người con Tam Xuân, người cán bộ Khu 5, người đã dành hơn hai mươi năm ở lại chiến trường Quảng Nam, từ xây dựng những cơ sở bí mật giữa vùng địch kiểm soát đến chỉ đạo những trận đánh mở đường cho ngày Quảng Nam hoàn toàn giải phóng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn