Đỗ Thị Đệ - HÀO NGHĨA KHẢ PHONG
Bằng cả tấm lòng nhân từ, bà thường xuyên bỏ tiền riêng để đắp đường, bắc cầu, trùng tu chùa miếu và cứu trợ người sa cơ lỡ vận. Đặc biệt, đối với tá điền, bà sẵn sàng giảm lúa tô, hoãn thu, thậm chí xóa nợ cho những người không có khả năng chi trả.
Bà Đỗ Thị Đệ sinh năm 1802, người làng Mỹ Trà, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường (nay là xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) là một đại điền chủ giàu có nhất nhì trong vùng.
Bà chẳng những là người giỏi giang, tháo vát trong công việc làm ăn kinh doanh, gia sản ngày một lớn mà còn có lòng nhân từ, hay làm việc thiện.
Ngoài việc thường bỏ tiền ra đắp đường, bắc cầu cho dân chúng đi lại làm ăn dễ dàng, bà còn góp tiền xây dựng, trùng tu chùa miếu, cứu trợ cho người nghèo, trợ giúp người sa cơ lỡ vận... Đối với tá điền, trong những năm mùa màng thất bát, bà sẵn lòng giảm bớt lúa tô, có khi hoãn thu, gặp trường hợp đặc biệt bà không thu lúa ruộng, mà còn giúp đỡ họ lúa gạo ăn để làm mùa tới. Với những người thiếu nợ mà không có khả năng trả nợ, bà xóa nợ và cho đồ đạc giấy nợ trước mặt cho họ yên lòng.
Do vậy nhân dân cả vùng Câu Lãnh (tên gọi Cao Lãnh thời ấy) vô cùng mến phục.
Vào năm Tự Đức thứ 12 (1859), thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, sau đó chiếm luôn ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Lúc đầu là quân triều đình, về sau là nghĩa quân Thiên Hộ Dương đều được bà giúp đỡ, ủng hộ rất nhiều lương thực, vũ khí, đồn thau... rèn đúc khí giới. Công đức của bà đối với nhân dân, triều đình và nghĩa quân được vua Tự Đức ban tặng một tấm biển sơn son thếp vàng, ghi bốn chữ: “HÀO NGHĨA KHẢ PHONG”.
Chồng bà là ông Lê Văn Tân, người cùng làng Mỹ Trà, là một nhân sĩ yêu nước gắn bó với nghĩa quân của Quản Văn, Quản Võ ở Mỹ Trà, Trần Trọng Khiêm ở Hòa An, Nguyễn Văn Linh ở Mỹ Ngãi.
Hiện nay, mộ bà tọa lạc ở Xép Lá (ấp Hòa Lợi, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), xây theo dạng “an nhân chi mộ” (có hai vòng thành nội ngoại), còn cất theo lối “táng xa”. Mộ bà Đỗ Thị Đệ là một công trình kiến trúc cổ, đã bị thời gian, mưa nắng tàn phá nặng nề. Năm 2000, mộ bà mới được con cháu trùng tu, song không còn giữ được dáng vẻ ngày xưa.



