Đỗ Thị Năm – Nữ chiến sĩ vận tải kiên cường, mưu trí trên tuyến lửa hậu cần
Đỗ Thị Năm (tức Năm Tháng), sinh năm 1949, quê xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, nhập ngũ tháng 7 năm 1972. Khi được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đồng chí là Thượng sĩ, chiến sĩ vận tải, Ban Hậu cần, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Cửu Long, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đỗ Thị Năm (tức Năm Tháng), sinh năm 1949, quê xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, nhập ngũ tháng 7 năm 1972. Khi được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đồng chí là Thượng sĩ, chiến sĩ vận tải, Ban Hậu cần, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Cửu Long, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chị sinh ra trong một gia đình bần cố nông. Cha Đỗ Văn Mười, mẹ Trần Thị Bảy. Cha mất sớm, chị ở với mẹ và hai em, không có ruộng vườn để làm ăn. Quanh năm phải làm thuê kiếm tiền mua gạo. Đến tháng 4/1965, chị Năm Thắng xin được làm công tác giao liên của xã. Thời điểm này, bộ phận giao liên xã có khoảng 5 người, cả nam và nữ, và do ông Tư Già - Đảng viên lãnh đạo. Hình thức hoạt động chủ yếu bằng ghe xuồng (chèo và có gắn máy đuôi tôm), nhưng những ghe xuồng đó đều được gởi ở nhà dân, dài theo rạch Trường Tiền, nơi có nhiều lùm bụi, có nước lớn ròng, để ghe xuồng dễ dàng vào ra. Rồi sau đó bộ phận giao liên xã phát triển thêm lên 7, lên 10 người, cho nên xã mới xây dựng thành hai Trạm giao liên. Một trạm cất trên khu vườn quản lý của cảnh sát Hai Ngãi (bấy giờ y đã lên làm xã trưởng). Trạm kia đặt ở cù lao Tân Quy, thuộc xã Tích Thiện. Nhiệm vụ chính của lực lượng này là chuyển giao tài liệu, thư từ và nhận hoặc đưa rước các cán bộ từ địa bàn này sang địa bàn khác hoạt động. Thời điểm này giao liên gặp rất nhiều khó khăn. Một số tàu tuần tra của Mỹ thường xuyên tuần tra, kiểm soát trên sông Hậu, neo ghe xuồng của người dân lại để kiểm tra giấy tờ và tịch thu hàng cấm. Việc kiểm tra được tiến hành thận trọng ở giữa dòng sông để tránh hỏa lực của ta từ trên bờ dội xuống. Bởi vì ở Cần Thơ có căn cứ Hải quân, tuần tra ngày và đêm. Cho nên giao liên xã, đi phải tranh thủ. Chị Năm Thắng lúc này chưa vào Đảng, nhưng là giao liên nòng cốt, rất giỏi giang.
Nhưng để đưa được của và người đến nơi an toàn không chỉ có ghe xuồng, máy tốt là đủ mà đòi hỏi có những con người mưu trí, dũng cảm, dám làm và sẵn sàng hy sinh! Trên tuyến đường này đã có biết bao nhiêu câu chuyện diệu kỳ được dệt nên bằng những tinh thần đó.
Đi bí mật đã là một chuyện khó, đi công khai trước mặt địch thì càng khó hơn nhiều. Gắn với những chiến công hiển hách, giao liên còn mang thêm những giai điệu bi hùng của lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc: Tháng 9/1968, trong một chuyến đi thư, chị Năm Thắng bị bọn giang thuyền bắt được tại vàm Kinh Xáng Ngay, cách Kinh Xáng Xéo khoảng 500 mét. Chúng neo ghe chị lại, kiểm soát giấy tờ và hàng cấm. Do chưa làm được giấy tờ giả, với lại bọn chúng neo ghe quá lâu, sợ bọn chúng nhìn mặt biết mình là giao liên, thừa cơ hội ghe xuồng đông, chị lén mở dây mũi cho ghe trôi xuôi dòng nước. Tuy mở được dây mũi, nhưng chị ở trên ghe không thể giựt máy chạy được. Đúng lúc đó địch lại phát hiện, bắt chị giam ở Khám lớn Vĩnh Long. Nhưng dù bị địch tra tấn thế nào chị cũng không khai báo. Và trong khi chị bị bắt, đã có mang thai và phải sinh con trong tù. Hơn một năm sau, đến tháng 10/1969, không khai thác được gì chúng mới thả chị ra. Do chị có con nhỏ, phần sức khỏe yếu, chưa tiếp tục thoát ly được, nên phải ở lại gia đình, nuôi mẹ và nuôi con. Còn chồng chị, ông Phan Văn Thành đang công tác xã đội phó. Năm 1970, chồng chị hy sinh. Thời điểm này, chị Năm Thắng ra tù nhưng không dám về nhà chồng, cũng không dám về nhà mẹ ruột ở ấp Phú Lợi, sợ bọn lính tới lui làm khó làm dễ. Cho nên chị mới mượn ghe xuồng của dân rồi bồng bế đứa con nhỏ sinh trong tù, xuống ghe sống đời sông nước. Trước tình hình khó khăn vậy, anh em ở xã mới động viên chị qua bên Trạm Y tế ở Tân Quy sống với anh em, cạnh đó cũng có Trạm Dân y của huyện. Thì chị qua ở đó. Khoảng chừng hai tháng sau, các đơn vị bộ đội của tỉnh về đóng quân. Ban Hậu cần Tỉnh đội mới xin Chi bộ xã cho chị về tỉnh công tác, đồng chí Bí thư Chi bộ là Nguyễn Văn Dũng, thường gọi Tư Dũng, chấp thuận cho đi về trên và chị được phân công làm Y tá của Đội Vận tải - Ban Hậu cần Tỉnh đội Vĩnh Long.
Do yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ chiến đấu đánh giặc Bình định, tháng 8/1972 chị được chuyển sang làm nhiệm vụ vận tải vũ khí bán công khai trên đường sông (thuộc đơn vị Vận tải - Hậu cần Tỉnh đội Vĩnh Long) và liên tục đến khi kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh. Kết quả chỉ trong thời gian 3 năm, từ tháng 8/1972 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng tháng 4/1975, chị Năm Thắng đã vận chuyển trót lọt 279 chuyến hàng, trong đó có 79 chuyến vận chuyển từ Quân khu về tỉnh qua địa phận tỉnh Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp); trên 200 chuyến trong tỉnh và liên tỉnh; đưa trên 22 tấn vũ khí, gồm súng, đạn dược, chưa kể gạo, tài liệu và chuyển thư từ về các địa phương trong tỉnh.



