Bài viết

Đô thống Thượng tướng quân Lê Phụng Hiểu

Đô thống Thượng tướng quân Lê Phụng Hiểu

24/08/2026Đoàn phường Quy Nhơn Nam (Đoàn phường Quy Nhơn Nam)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Lê Phụng Hiểu (? - ?) là một Đại tướng nhà Lý. Ông làm quan, phụng sự hai đời Hoàng Đế đầu triều nhà Lý là vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) và vua Lý Thái Tông (1028 - 1054). Ông là người có công rất lớn trong việc phò vua Lý Thái Tông tức Lý Phật Mã lên ngôi.

Lê Phụng Hiểu quê ở hương Băng Sơn, tổng Dương Sơn, huyện Cổ Đằng, lộ Thanh Hoá (nay thuộc xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Hiện không rõ năm sinh năm mất. Theo sử sách ghi lại được, ông thọ tới tuổi 77. Ngay từ thuở nhỏ, ông rất yêu thích và ham mê các môn võ thuật như: đấu quyền, múa kiếm, ném đao. Ông lớn lên nổi tiếng là người sức khỏe muôn địch, võ nghệ hơn người, là đô vật có tiếng với nghệ danh đô Bưng (Băng).

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại câu chuyện kỳ thú về sức mạnh của ông. Bấy giờ, hai làng Cổ Bi và Đàm Xá nổ ra việc giành đất. Làng Đàm Xá cậy đông người đã chém hẳn doi đất màu mỡ mà lẽ ra phải thuộc về làng Cổ Bi. Lê Phụng Hiểu lúc đó chưa làm quan, đứng ra giúp làng Cổ Bi. Ông nói: “Một mình tôi có thể đánh được bọn họ”. Dân làng Cổ Bi rất mừng, liền bày ra nhiều mâm cỗ to để thiết đãi. Ông đủng đỉnh ăn hết rồi ngủ một giấc no say.

Chờ đến khi dân làng Đàm Xá đến tranh đất, Phụng Hiểu tỉnh dậy rồi cứ đứng thế xông ra giữa đám trai tráng làng Đàm Xá mà đánh. Ông xắn tay áo, nhổ những cây bên đường làm vũ khí. Sức khỏe của ông khiến cả làng Đàm Xá khiếp sợ, đành phải trả lại ruộng cho làng Cổ Bi. Từ đó, Đàm Xá không dám ỷ thế cậy đông mà chèn ép làng Cổ Bi nữa.

Bấy giờ, vua Lý Thái Tổ xuống chiếu, tuyển chọn những người có sức khỏe để sung vào đội quân túc vệ. Lê Phụng Hiểu trúng tuyển. Nhờ làm việc siêng năng, ông được khen ngợi và cất nhắc dần tới chức Vũ vệ Tướng quân, đứng ngang hàng với các tướng như Đàm Thận, Quách Thịnh, Lý Huyền Sư...

Ngày mùng 3 tháng 3 năm Mậu Thìn (1028), sau khi vua Lý Thái Tổ vừa mất, chưa làm lễ táng, các hoàng tử Vũ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chính Vương không chấp nhận việc Thái tử Lý Phật Mã lên nối ngôi, đã đem quân đến vây thành để tranh ngôi của Thái tử.

Thái tử Phật Mã biết là có biến, bèn sai người đóng hết các cửa điện, rồi bảo rằng: “Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc bất nghĩa như thế, quên di mệnh của Tiên đế, muốn mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”. Các quan cùng xin Thái tử cho đem quân ra thành quyết được thua một trận.

Lê Phụng Hiểu cùng một số tướng khác như Lý Nhân Nghĩa, Dương Bình, Quách Thịnh... đưa quân ra ngăn chặn. Khi quân của Thái tử và quân của các vương giáp trận, Lê Phụng Hiểu đã rút gươm, hô to lên rằng: “Bọn Vũ Đức Vương ngấp nghé ngôi báu, không coi vua kế vị vào đâu, trên thì quên ơn Tiên đế, dưới thì trái nghĩa tôi con. Vì thế thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng”.

Dứt lời, Phụng Hiểu vung gươm chém chết Vũ Đức Vương. Quân của ba vương thấy thế, hốt hoảng rủ nhau tháo chạy. Phụng Hiểu quay ngựa về cung báo cho Thái tử Phật Mã biết. Phật Mã hết sức ca ngợi lòng trung dũng của ông, sau khi lên ngôi đã phong ông làm Đô thống Thượng tướng quân, tước Hầu.

Năm 1044, quân Chiêm Thành sang xâm lược nước ta, Đô thống Lê Phụng Hiểu hộ giá nhà vua đi đánh giặc. Ông làm tướng tiên phong, lập công lớn, danh tiếng lừng lẫy. Khi chiến thắng trở về, nhà vua định công, phong thưởng. Xét thấy quyền lực, bạc vàng đều là phù du, ông liền nói với vua: “Thần không muốn thưởng tước, cũng không dám tham lam công khố, chỉ xin cho về ở núi Băng Sơn, ném dao lớn đi xa, dao rơi đến chỗ nào trong đất công thì xin ban cho làm sản nghiệp”.

Vua nghe theo. Phụng Hiểu lên núi, ném dao xa đến hơn mười dặm, rơi xuống thôn Đa Mi. Vua lấy số ruộng ấy ban cho, tha thóc thuế cho ruộng ném dao ấy.

Tục truyền rằng Phụng Hiểu vốn sức khỏe hơn người. Đứng trên núi Băng Sơn, con dao trong tay ông ném ra có thể bay qua cả kinh thành Thăng Long, nếu ông ném hết sức thì đất đai nhà vua sẽ là của ông cả. Từ đó, người vùng Thanh Hóa gọi ruộng thưởng công là “ruộng thác đao”.

Sau đó, ông còn nhiều lần cầm quân đi đánh giặc Chiêm Thành và đều chiến thắng mới trở về. Ông sống hết lòng trung thành với vua, biết điều gì có lợi cho dân cho nước đều bàn với vua. Sau khi ông mất (thọ 77 tuổi), nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ ông.

Đô thống Lê Phụng Hiểu - người có nhiều công lao với vương triều Lý. Tên tuổi và công trạng của ông không những được sử sách lưu danh, mà còn được dân gian truyền tụng. Nhiều làng xã ở xứ Kinh Bắc - Bắc Ninh, nơi ông từng lưu lạc thuở nhỏ và đóng quân đánh giặc, đã thờ ông làm Thành hoàng, tiêu biểu là đền Hòa Đình. Hằng năm cứ đến mùng 6 tháng 2 (âm lịch) đền lại mở hội. Trong các trò chơi dân gian có tục thi vật để tưởng nhớ đến Đô thống Thượng tướng quân Lê Phụng Hiểu.

Hổ tướng Lê Phụng Hiểu và nhát gươm định loạn

Lê Phụng Hiểu là dũng tướng nổi danh của triều Lý. Tên tuổi ông không chỉ gắn với nhát gươm định loạn, giúp triều đình ổn định sau khi Lý Thái Tổ băng hà, mà còn ghi dấu nhiều công trạng trong sử Việt.

Nhát gươm định loạn

Sau khi vua Lý Thái Tổ băng hà (1028), linh cữu còn chưa kịp an táng thì Đông Chính vương, Dực Đức vương và Vũ Đức vương với âm mưu tranh giành ngôi báu, đã cùng nhau đem quân về triều, mai phục trong cung để đánh úp Thái tử Phật Mã - người đã được truyền ngôi trước đó.

Khi Thái tử đến điện Càn Nguyên, nhận thấy có biến, bèn sai tùy tùng đóng cửa điện, lệnh cho các vệ sĩ sẵn sàng phòng giữ, rồi bảo với mọi người: “Ta với anh em không bạc bẽo chút nào. Nay ba vương lại làm hành động bất nghĩa, quên di mệnh của tiên đế, muốn mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”.

Nội thị Lý Nhân Nghĩa tâu rằng: “Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sức bàn mưu, bên ngoài có thể cùng nhau chống giặc. Nay ba vương làm phản thì là anh em hay là kẻ thù? Xin cho bọn thần đánh một trận để quyết được thua”.

Tuy nhiên, Thái tử Phật Mã là người nặng lòng nhân nghĩa, xót tình cốt nhục không muốn cảnh anh em chém giết lẫn nhau, cứ lần lữa không quyết, chỉ khi quân của ba vương vây ráp quá, Thái tử mới đành ủy thác việc chống đối cho các triều thần.

Lúc ấy, Lê Phụng Hiểu rút gươm chạy thẳng tới cửa Quảng Phúc và hô to rằng: “Bọn Vũ Đức vương ngấp nghé ngôi báu, không coi vua kế vị vào đâu, trên thì quên ơn tiên đế, dưới thì trái nghĩa tôi con. Vì thế, thần là Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này”.

Dứt lời, ông chạy thẳng tới ngựa của Vũ Đức vương. Vương hoảng sợ quay ngựa chạy tránh, nhưng ngựa quỵ gối, Lê Phụng Hiểu chém chết Vũ Đức vương. Đám tàn quân còn lại bị quan quân đuổi theo giết sạch, chỉ Đông Chính vương và Dực Thánh vương chạy thoát.

Sau khi dẹp xong loạn tam vương, Lê Phụng Hiểu mặc nguyên giáp trụ chạy về điện Càn Nguyên, báo tin với Thái tử Lý Phật Mã. Thái tử hết sức ca ngợi lòng trung dũng của ông, sau khi lên ngôi đã phong làm Đô thống Thượng tướng quân, tước Hầu.

“Nhát gươm định loạn” của Lê Phụng Hiểu không chỉ giúp Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi (tức vua Lý Thái Tông), bảo vệ di chiếu truyền ngôi của vua Lý Thái Tổ, mà nó còn giúp cho triều Lý và Đại Việt ổn định nhiều năm sau đó.

Tranh vẽ danh tướng Lê Phụng Hiểu (ảnh trái).

Đánh đâu thắng đó

Là vị tướng đánh đâu thắng đó, danh tiếng lẫy lừng khắp các nước trong khu vực, sau khi qua đời, Lê Phụng Hiểu được suy tôn làm Thành hoàng ở làng Niềm Xá (Bắc Ninh). Ngày nay, ở Hà Nội, Thanh Hóa và nhiều địa phương khác đều có con đường mang tên ông.

Theo sử sách, cho đến nay, năm sinh và năm mất của Lê Phụng Hiểu vẫn chưa thống nhất; có tài liệu ghi ông sinh năm 982 mất năm 1059, sống thọ tới 77 tuổi, quê ở Băng Sơn, tổng Dương Sơn, huyện Cổ Đằng, lộ Thanh Hóa (nay thuộc Hoằng Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa).

Ngay từ thuở nhỏ, Lê Phụng Hiểu đã rất yêu thích và ham mê các môn võ thuật. Lớn lên, ông nổi tiếng là người sức khỏe muôn địch, đô vật nức tiếng trong vùng, thuộc dạng dũng sĩ “bạt sơn cửu đỉnh” như Hạng Vũ, Phàn Khoán ở Trung Quốc.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép rằng, bấy giờ, làng Đàm Xá cậy đông người đã chiếm hết vùng đất màu mỡ mà lẽ ra phải thuộc về làng Cổ Bi. Lê Phụng Hiểu lúc đó chưa làm quan, đã đứng ra giúp làng Cổ Bi. Ông nói: “Một mình tôi có thể đánh được bọn họ”. Các phụ lão làng Cổ Bi mừng lắm, bèn làm cơm rượu để thiết đãi Lê Phụng Hiểu.

Sau khi ăn hết nồi cơm lớn, uống sạch hũ rượu, Lê Phụng Hiểu bèn đến khiêu chiến với làng Đàm Xá. Dân làng kéo ra xúm lại tấn công, ông cứ đứng thẳng lưng nhổ bật cây cối xung quanh mà quật tới tấp như đánh gà, đánh vịt. Dân làng Đàm Xá bỏ chạy toán loạn, buộc phải trả lại hết ruộng cho dân làng Cổ Bi. Từ đó, làng Đàm Xá không dám ỷ thế cậy đông mà chèn ép làng Cổ Bi nữa.

Tiếng lành đồn xa, vua Lý Thái Tổ nghe danh Lê Phụng Hiểu nên đã triệu ông vào triều bổ sung vào đội quân túc vệ, sau thăng dần đến chức Vũ vệ tướng quân. Khi làm quan nhà Lý, Lê Phụng Hiểu tiếp tục lập được nhiều chiến công cho triều đình.

Tên tuổi và công trạng của ông không những được sử sách lưu danh, mà còn được dân gian truyền tụng. Nhiều làng xã ở xứ Kinh Bắc, nơi ông từng đóng quân đánh giặc, đã thờ ông làm Thành hoàng. Trong các trò chơi dân gian có tục thi vật để tưởng nhớ đến Đô thống Thượng tướng quân Lê Phụng Hiểu.

Năm 1044, sau khi đánh thắng Chiêm Thành trở về, được ban thưởng nhờ có nhiều chiến công, ông không nhận chức tước, chỉ xin nhà vua cho lên núi Băng Sơn ở quê ném một chiếc đao đi xa, đao rơi ở đâu thì xin lấy chỗ ấy làm mốc để khoanh đất ban thưởng cho ông làm sản nghiệp.

Tương truyền, ông đã ném đao bay xa tới 10 dặm, rơi xuống thôn Đa Mĩ. Vua đã cho đo đất ban sổ ruộng ấy gồm 100 mẫu và miễn thuế cho số ruộng này. Nhân từ sự kiện ấy mà nhân dân Ái Châu (Thanh Hóa) gọi ruộng thưởng công là “ruộng ném đao” thác đao điền.

Năm Minh Mạng thứ tư (1823) ông được thờ vào miếu Lịch đại đế vương (miếu thờ các vị đế vương tiêu biểu qua các triều đại). Vua Tự Đức ngự chế bài ca “Trịch đạo” (ném đao) ca ngợi tài trí tuyệt vời, công đức hiếm có của Lê Phụng Hiểu với những câu thơ như:

“Một kiếm lại một đao

Nghìn thu công nghiệp cao

Một đao lại một kiếm

Nghìn thu công nghiệp hiếm”.

"

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn