ĐỖ XUÂN HỢP – NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG CHO NỀN QUÂN Y HIỆN ĐẠI
ĐỖ XUÂN HỢP – NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG CHO NỀN QUÂN Y HIỆN ĐẠI
Đỗ Xuân Hợp sinh năm 1906 tại phố Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông đã là giáo sư Trường Đại học Y Đông Dương – một trí thức tiêu biểu của nền y học nước nhà. Không chỉ giỏi chuyên môn, ông còn tích cực tham gia các hội cứu tế, Hội Chữ thập đỏ, khám chữa bệnh cho người nghèo, sớm thể hiện tấm lòng của một thầy thuốc vì dân.
Sau Cách mạng Tháng Tám, từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 6 năm 1946, ông là Chủ tịch Ủy ban khu phố Chợ Hôm, Hội trưởng Hội Cứu đói toàn quốc. Tháng 7 năm 1946, ông là một trong những sáng lập viên Đảng Xã hội Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Tháng 11 năm 1946, khi Tổ quốc bước vào kháng chiến, Đỗ Xuân Hợp nhập ngũ, bắt đầu gần bốn thập kỷ cống hiến liên tục cho quân đội.
Trong quân đội, ông giữ nhiều trọng trách: Viện trưởng Viện Quân y 10; Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ, Trường Sĩ quan Quân y, Trường Đại học Quân y; chuyên viên Viện Nghiên cứu Y học quân sự. Ở cương vị nào, ông cũng tận tụy, trách nhiệm, đặt nền móng vững chắc cho hệ thống đào tạo và nghiên cứu khoa học quân y Việt Nam.
Ông đặc biệt say mê nghiên cứu khoa học với hơn 100 công trình và 15 cuốn sách giáo khoa dành cho nhiều cấp đào tạo từ y tá đến bác sĩ. Các công trình nghiên cứu về đặc điểm giải phẫu và nhân học người Việt Nam có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, phục vụ cả dân sự và quốc phòng. Ông trực tiếp chỉ đạo đề tài nghiên cứu nhân trắc học người Việt Nam, tạo cơ sở ứng dụng cho nhiều binh chủng, quân chủng.
Đỗ Xuân Hợp là người đầu tiên xây dựng hệ thống thuật ngữ giải phẫu bằng tiếng Việt, chủ biên cuốn Từ điển thuật ngữ giải phẫu bốn thứ tiếng (La-tinh, Pháp, Anh, Việt). Ngay trong kháng chiến chống Pháp, ông đã đề xuất và thực hành giảng dạy y học hoàn toàn bằng tiếng Việt – một bước tiến có ý nghĩa lớn về độc lập học thuật và phát triển nền khoa học nước nhà.
Năm 1946, ông viết “Cuốn sổ tay thực hành bệnh viện”; năm 1952 xuất bản “Giải phẫu tứ chi và thực dụng ngoại khoa”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi và tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Tác phẩm “Một số thuyết cơ bản y học cổ truyền của các dân tộc qua các thời đại” (1978) được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng gửi thư khen.
Không chỉ là nhà khoa học lớn, ông còn là người thầy mẫu mực. Ông trực tiếp hướng dẫn, đào tạo nhiều thế hệ cán bộ, trong đó có 3 phó giáo sư, 10 tiến sĩ y khoa và nhiều chuyên gia đầu ngành của quân đội và đất nước.
Song song với công tác quân đội, ông còn là Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI, Ủy viên Thường vụ Quốc hội khóa IV, Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Thái – Việt Nam, giáo sư Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Dù ở cương vị nào, ông vẫn giữ phong cách sống giản dị, khiêm tốn, liêm khiết – tiêu biểu cho hình ảnh trí thức cách mạng.
Với những cống hiến to lớn, ông được tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cùng nhiều huân, huy chương khác.
Ngày 29 tháng 8 năm 1985, Đỗ Xuân Hợp được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời ông là biểu tượng của trí tuệ gắn liền với lý tưởng. Ông không chỉ chữa bệnh cho từng con người, mà còn góp phần xây dựng nền móng học thuật, đào tạo đội ngũ, tạo nên sức mạnh bền vững cho quân đội và ngành y Việt Nam.
Trong bản anh hùng ca của dân tộc, Đỗ Xuân Hợp là minh chứng rằng: trí thức khi gắn bó với Tổ quốc và Nhân dân sẽ trở thành sức mạnh trường tồn.


