ĐÓA HOA RỪNG NGÃ BA ĐỒNG LỘC
Đêm ấy, sương núi Trường Sơn muối mặn xát vào những vết nứt nẻ trên bàn tay con gái. Trong căn hầm sương giăng mờ mịt sát ngã ba Đồng Lộc, Hồ Thị Cúc ngồi còng lưng bên ngọn đèn dầu tù mù làm từ vỏ đồ hộp.
Cúc sinh năm 1944 tại xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Mới tròn 24 tuổi nhưng em đã là Tiểu đội phó Tiểu đội 4 (Đại đội 552, Tổng đội 55 Thanh niên xung phong). Trong tiểu đội, ngoài Tiểu đội trưởng Võ Thị Tần ra thì Cúc là người chị cả, người đảng viên trẻ gánh vác nhiều nỗi niềm nhất. Tuổi thơ Cúc sớm mồ côi bố mẹ, trải qua bao cơ cực cay đắng nên nét mặt em lúc nào cũng trầm lắng. Nhưng đằng sau sự lầm lụi thầm lặng ấy là một trái tim bao dung, quả cảm và kiên cường vô hạn.
Ánh lửa dầu chao đảo theo từng tiếng nổ ầm ầm từ phía đồi Bãi Dĩa vọng lại. Cúc năm ấy 24 tuổi, mái tóc dài chấm thắt lưng thoảng mùi hoa bưởi khô gội từ bến sông quê. Cặp mắt em trong veo như nước suối La, nhưng bàn tay thì đã chai sần, những móng tay bấm sâu vào đất đá chốn "túi bom" Đồng Lộc để bới từng khoảng đất, rà từng quả bom nổ chậm.
Tiếng còi báo động xé tan màn đêm chao đảo.
"Cúc ơi! Bom từ trường gài ở cua A5 rồi!"
Tiếng hô của đồng đội vang lên giữa tiếng rít xé gió của máy bay B-52. Cúc bật dậy nhanh như một sóc rừng, chiếc áo trấn thủ màu xanh lá cúp ngực đẫm mồ hôi. Em vội vã ngoắc chiếc xẻng gấp vào hông, vơ lấy ngọn cờ đỏ nhỏ xíu rồi lao ra khỏi hầm.
Bầu trời Đồng Lộc đêm ấy không có sao, chỉ có ánh hỏa châu xanh lét, chập chờn chiếu tỏ một vùng đất đỏ quạch, chằng chịt những hố bom đĩa chất chồng như những vết thương hở của lòng đất. Mùi thuốc súng nồng nặc, hăng hắc xộc thẳng vào mũi, làm đắng ngắt cuống họng.
Cúc cùng các chị em Tiểu đội 4 chạy đua với thời gian. Phía sau lưng các em, đoàn xe tải phủ bạt xanh đang chực chờ nối đuôi nhau, máy vẫn nổ rầm rập, đèn pha tịt đen để giấu mình dưới vòm lá ngụy trang. Với Cúc và đồng đội, "thà gục xuống chứ không để mạch máu giao thông bị tắc". Mỗi phút đường tắc là mỗi phút máu của đồng đội ở chiến trường miền Nam phải đổ.
"Mọi người dạt ra! Để em rà trước!" – Cúc hét lên qua tiếng gầm rú của động cơ.
Em bò sát mặt đất. Đất dưới bụng Cúc vẫn còn nóng hổi sau trận bom hồi chiều. Em nghe thấy tiếng "rút rít" ma quái phát ra từ lòng đất — dấu hiệu của quả bom từ trường chưa nổ. Bằng những ngón tay gầy guộc nhưng kỳ lạ thay lại vô cùng khéo léo, Cúc tỉ mỉ bới từng lớp đất đá xám xịt. Mồ hôi trộn lẫn bụi than chảy thành dòng trên má, nhưng ánh mắt em chưa từng rời khỏi khoảng đất trước mặt.
Khi đầu ngòi nổ kim loại hiện ra lạnh ngắt dưới ánh sáng lập lòe của hỏa châu, Cúc hít một hơi thật sâu. Đáy lòng cô gái Sơn Bằng chợt gợn lên ký ức tuổi thơ nghèo khó, nhớ túp túp lều tranh xiêu vẹo bên dòng sông Ngàn Phố quê nhà. Em từng tâm sự với chị em: "Chị khổ từ nhỏ, chỉ mong hòa bình hoàn thành nhiệm vụ rồi được đi làm một công việc bình thường...". Nhưng giữa lằn ranh sinh tử này, ước mơ giản dị ấy đành xếp lại phía sau.
Em nhẹ nhàng cắm chiếc cờ đỏ báo hiệu ngay cạnh ngòi nổ, rồi vẫy tay về phía đoàn xe đang chờ:
"Thông đường rồi! Đi nhanh lên các anh ơi!"
Chiếc xe đầu tiên chồm lên, bánh xe lăn qua khoảng đất vừa giải tỏa, để lại vệt bụi mờ. Anh tài xế nghiêng đầu qua cửa kính, giơ tay chào em, nụ cười sáng lóa giữa gương mặt bám đầy bồ hóng. Cúc đứng đó, tựa lưng vào mép hố bom, giơ tay vẫy lại. Chiếc áo xanh chiến sĩ của em thấm đượm giọt sương đêm và vệt khói đạn, đẹp lung linh như một đóa hoa rừng nở giữa miền đất chết.
Chiều ngày 24 tháng 7 năm 1968, trận bom thứ 15 dội xuống ngã ba chết chóc này. Quả bom trút xuống đúng căn hầm chữ A nơi 10 chị em Tiểu đội 4 đang tránh bom, vùi lấp cả 10 đóa hoa xuân khi tuổi đời còn quá trẻ. Chị Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc và 8 người em nhỏ đã mãi mãi nằm lại với lòng đất mẹ Hà Tĩnh.
Trường Sơn những năm tháng ấy đã đi vào huyền thoại bởi những trái tim tuổi mười tám, đôi mươi như Cúc. Màn đêm dần lùi xa, nhường chỗ cho rạng đông đỏ rực phía chân trời. Dưới thung lũng, đoàn xe vẫn nối đuôi nhau ra tiền tuyến, tiếng còi xe ngân vang vọng lại giữa ngàn xanh — tiếng gọi của sự sống, của hòa bình đang lớn lên từ chính những hy sinh thầm lặng mà vĩ đại ấy.
Để tỏ bày lòng biết ơn và nỗi đau xót với sự hi sinh của Cúc, Yến Thanh đã sáng tác ra bài thơ “Cúc Ơi”:
Tiểu đội đã xếp một hàng ngang
Cúc ơi em ở đâu không về tập hợp?
Chín bạn đã quây quần đủ hết
Nhỏ - Xuân - Hà - Hường - Hợi - Rạng - Xuân - Xanh
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em
(Chín bỏ làm mười răng được!)
Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc
Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng
Cúc ơi! em ở đâu?
Đất nâu lạnh lắm
Da em xanh
Áo em thì mỏng!
Cúc ơi! em ở đâu?
Về với bọn anh tắm nước sông Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu cắt cỏ
Bài toán lớp Năm em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn.
Ở đâu hỡi Cúc
Đồng đội tìm em
Đũa găm cơm úp
Gọi em
Gào em
Khan cổ cả rồi
Cúc ơi!



