Đoá hoa rừng trên tuyến lửa 559
Trong những năm tháng "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", hình ảnh những cô gái tuổi đôi mươi quên mình bên những cung đường trọng điểm đã trở thành huyền thoại. Bà Hoàng Thị Vạn, người con gái sinh năm 1947, chính là một trong những "bông hoa lửa" ấy. Nhập ngũ năm 1970 – thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt nhất – bà đã gửi lại ba năm thanh xuân đẹp nhất (1970 - 1973) nơi đại ngàn Trường Sơn.
Năm 1970, khi vừa tròn 23 tuổi – cái tuổi đẹp nhất của người con gái, bà Hoàng Thị Vạn lên đường nhập ngũ, gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong (TNXP). Giữa lúc chiến trường miền Nam đang cần sức người sức của hơn bao giờ hết, bà đã chọn rời xa gia đình, rời xa sự bình yên của làng quê để dấn thân vào nơi "túi bom, vũng đạn".
Với chiếc cuốc, chiếc xẻng và trái tim rực cháy lý tưởng, bà cùng đồng đội lên đường với quyết tâm sắt đá: "Máu có thể đổ, nhưng đường không thể tắc".
Ba năm ở chiến trường là ba năm bà sống và làm việc dưới làn mưa bom tọa độ. Nhiệm vụ của người nữ TNXP Hoàng Thị Vạn vô cùng gian khổ và hiểm nguy:
Mở đường, giữ mạch máu giao thông: Mỗi khi máy bay địch dội bom xuống các cung đường huyết mạch, bà và tiểu đội lại lao ra trận địa ngay trong đêm để san lấp hố bom, phá bom nổ chậm, đảm bảo cho những đoàn xe vận tải chở hàng vào Nam kịp giờ.
Sống giữa rừng thiêng nước độc: Những cô gái TNXP ngày ấy phải đối mặt với sốt rét rừng, thiếu thốn từ mảnh lương khô đến bát nước sạch. Thế nhưng, trong tiếng bom rít, tiếng cuốc xẻng vẫn vang lên đều đặn hòa cùng tiếng hát át tiếng bom. Bà Vạn và đồng đội đã dùng chính sức vóc nhỏ bé của mình để chống chọi với cả thiên nhiên khắc nghiệt và hỏa lực quân thù.
Có những đêm sương mù dày đặc trên đỉnh Trường Sơn, máy bay địch soi mói gắt gao, xe không thể bật đèn. Bà Vạn cùng các chị em đã mặc áo trắng, đứng sát mép vực, sát những đoạn đường hỏng để làm "cọc tiêu sống" dẫn đường cho xe qua an toàn.
Ba năm ấy (1970 - 1973), tình đồng đội giữa những cô gái TNXP còn thân thiết hơn cả chị em ruột thịt. Họ chia nhau chiếc lương khô thấm nước mưa, nhường nhau tấm chăn mỏng trong những đêm đông giá rét. Chính sự gắn bó ấy đã giúp bà Vạn giữ vững tinh thần thép, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cho đến ngày xuất ngũ vào năm 1973.
Năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết, bà Hoàng Thị Vạn rời quân ngũ trở về đời thường. Những vết chai sần trên đôi tay và những cơn đau nhức mỗi khi trái gió trở trời là dấu ấn của một thời kỳ lao động và chiến đấu quên mình.
Giờ đây, khi nhìn lại hành trình của mình, bà có quyền tự hào rằng mình đã sống những năm tháng rực rỡ nhất, đóng góp sức mình vào trang sử vàng của lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam. Bà không chỉ là người giữ đường, bà chính là người đã góp phần "mở đường" đến ngày toàn thắng của dân tộc.


