Khác

ĐÓA HOA THÉP NỞ TRÊN PHÁO TRƯỜNG

ĐÓA HOA THÉP NỞ TRÊN PHÁO TRƯỜNG Được một người bạn học giới thiệu, em gặp ông trong một buổi chiều đông mưa phùn se lạnh, người cựu chiến binh đáng kính đang ngồi trước mặt em đã kinh qua một thời lửa đạn, khuôn mặt hiền từ nay đã phảng phất dấu vết thời gian nhưng đôi mắt vẫn sáng lên khi em xin phép được nghe ông kể chuyện thời chiến.

Quảng Trị07/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐÓA HOA THÉP NỞ TRÊN PHÁO TRƯỜNG
Được một người bạn học giới thiệu, em gặp ông trong một buổi chiều đông mưa phùn se lạnh, người cựu chiến binh đáng kính đang ngồi trước mặt em đã kinh qua một thời lửa đạn, khuôn mặt hiền từ nay đã phảng phất dấu vết thời gian nhưng đôi mắt vẫn sáng lên khi em xin phép được nghe ông kể chuyện thời chiến.
“Nếu Tổ quốc cần, họ sẽ ra đi...”. Câu hát ấy đã trở thành lời hiệu triệu cho cả một thế hệ người Việt Nam, trong đó có người lính trẻ năm xưa, nay là cựu chiến binh Nguyễn Đăng Khoa. Trải qua những năm tháng bom đạn ác liệt trên chiến trường, ông mang về không chỉ những vết thương hằn sâu trên cơ thể mà còn là một kho tàng ký ức về lòng dũng cảm, tình đồng chí và khát vọng hòa bình. Cuộc đời của ông là một câu chuyện giản dị nhưng thấm đẫm chất anh hùng ca, mà ở đó, chúng ta nhận ra sức mạnh phi thường của người Việt trong những thời khắc lịch sử gian lao nhất.
Cuộc đời ông gói trọn trong 12 năm binh nghiệp khốc liệt, từ những ngày đầu cuộc chiến lan rộng đến khoảnh khắc đất nước ca khúc khải hoàn. Tốt nghiệp cấp ba năm 1963, khi chiến tranh bùng nổ và Mỹ đổ bộ vào miền Nam, cũng như bao thanh thiếu niên cùng thời, ông cũng dứt khoát gác lại ước mơ riêng để lên đường nhập ngũ vào năm 1964. Chỉ trong hai năm là năm 1964 và năm 1965, chiến tranh đã nhanh chóng lan rộng ra khắp miền Bắc, đặc biệt sau các đợt không kích dữ dội của quân đội Mỹ vào Hải Phòng, Quảng Ninh, và đỉnh điểm là Quảng Bình - vùng đất mà đặc biệt từ đầu năm đến giữa năm 1965, được ví như “chảo lửa”, ngày đêm hứng chịu sự tàn phá kinh hoàng của mưa bom bão đạn, là khung cảnh hàng xác người hi sinh trôi nổi đầy trên dòng sông Gianh. Trong qua giai đoạn này, ông hoạt động trong khu vực Vĩnh Linh, bên cạnh khu vực cầu Hiền Lương trong vòng một năm. Sau đó, ông chuyển công tác ra Nghệ An, làm việc tại Quân khu bộ ở thành phố Vinh trong suốt ba năm, từ năm 1966 đến năm 1968. Ông luôn cảm thấy bản thân mình vô cùng may mắn khi hoàn cảnh chiến đấu của ông và đồng đội trong đơn vị Pháo Cao xạ có phần được cải thiện hơn so với đồng chí bộ binh, nhờ sự chi viện kịp thời từ miền Bắc và sự giúp đỡ của các nước bạn. Với điều kiện sinh hoạt tương đối đầy đủ, có phương tiện di chuyển, là một sự may mắn hiếm có trong chiến tranh. Tuy nhiên, ở chiến tuyến, dù là ở đâu, hiểm nguy vẫn luôn rình rập người lính. Cuối năm 1965, tại sát cầu Hiền Lương, lần đầu tiên, ông bị thương. Trận đánh cướp khốc liệt đã cướp đi sinh mạng của hai đồng đội và khiến 11 chiến sĩ khác bị thương, trong đó có ông. Đến năm 1968, ở Đô Lương, Nghệ An, ông lại một lần nữa gặp chấn thương và 3 ngày sau tai nạn năm 1968, tại Đô Lương, ông đã chính thức được kết nạp Đảng và trở thành một sĩ quan quân đội, đánh dấu bước ngoặt lớn trong binh nghiệp. Giai đoạn ác liệt nhất trong đời lính của người cựu binh ấy gắn liền là chiến trường chiến dịch Nam Lào và Quảng Trị. Năm 1969, ông cùng đoàn 500 hành quân sang Lào, tham gia Chiến dịch Nam Lào, sau đó quay về Hà Tĩnh rồi lại về Quảng Bình.
Đặc biệt, năm 1972 là một cột mốc có thể nói là kinh hoàng nhất trong đời người lính của ông. Tham gia vào tiểu đoàn pháo cao xạ Nguyễn Viết Xuân, thuộc Trung khu 4, Sư đoàn 325, ông luôn tự hào khi đơn vị đã hai lần được phong danh hiệu Anh hùng nhờ tinh thần anh dũng và những chiến công đầy quả cảm của ông và các đồng chí. Lần thứ ba, do sự tàn phá của B52, ông một lần nữa bị chấn thương tại đây. Đó cũng là thời kỳ mà mảnh đất Quảng Trị bị B52 tàn phá đến mức mặt đất chi chít hố bom, không còn gì sót lại, là chiến trường được mệnh danh là khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, với cái “mùa hè đỏ lửa” in đậm trong sử sách nước nhà mãi không phai. Sự khốc liệt của chiến tranh đâu chỉ dừng lại ở số lượng bom đạn mà bọn ngoại xâm trút xuống mảnh đất ta hằng ngày, hằng giờ, mà còn ở sự tàn nhẫn của những thứ vũ khí vô nhân tính mà chúng sử dụng. Ông nhớ lại nỗi ám ảnh của bom laser của Mỹ. Đây là một loại bom sử dụng tia laser để điều khiển quỹ đạo, tự tìm và tấn công mục tiêu với độ chính xác cao bằng cách phát hiện bức xạ laser phản xạ từ mục tiêu đó, với cơ chế hoạt động như một quả tên lửa không có động cơ và có thể từ máy bay hoặc thiết bị mặt đất. Loại bom này chính xác đến mức đánh trúng trong một lần nọ, khi quân Mỹ đã sử dụng thứ vũ khí này để tấn công vào các khẩu pháo cao xạ của quân ta, đã không may sáu chiến sĩ cao xạ, nhận nhiệm vụ canh giữ và điều khiển nó hi sinh chỉ trong một thoáng. Ông bùi ngùi chia sẻ, có những ngày, một trung đoàn phải hi sinh đến những sáu khẩu pháo, cùng với vô số quân sĩ khác trước khi quân ta tìm ra phương pháp phòng chống. Cũng trong thời gian này, ông đã được phong lên làm cán bộ chỉ huy, không cần trực tiếp ở dưới pháo nữa, giúp ông may mắn nhiều lần thoát chết khỏi nanh vuốt tử thần. Thân là một người lính, đã từng chinh chiến và sống sót bước qua thời kì này, đối với ông, đáng quý nhất không chỉ là sự linh hoạt và mưu trí của người quân nhân mà còn là sự may mắn, là niềm tin, hy vọng, dù chỉ là một vệt sáng nhỏ nhoi trên chiến trường bao phủ bởi khói lửa và mưa đạn. Ông kể lại lần trú ẩn trong một cái hầm cùng hai đồng đội, khi bên ngoài tung hoành cả một khoảng đất rộng là cơn mưa 11 quả B52 liên tục dội xuống không ngừng, mà đến khi bừng tỉnh, thò tay ra bên ngoài, ông chỉ kịp túm được một mảnh bom to bằng con dao còn nóng hổi. Đảo mắt ra xung quanh thì lại thấy la liệt là tàn dư những mảnh bom rải rác khắp nơi, có những mảnh rơi xuống khe nước, làm đục ngầu cả một cái ao.
Nỗi đau chiến tranh còn hằn sâu trong là ký ức qua những ông cùng quân đoàn tham gia công tác chôn cất những đồng đội, những người mà chẳng khác gì anh em máu mủ ruột già với ông. Một hôm, ông được đích thân chỉ huy sở cử đi tìm trận địa cho đơn vị, tham gia với ông là sáu chiến sĩ khác. Trong đoàn, ông giữ vị trí là người đi đầu, sau đó năm anh lần lượt theo sau. Đã được báo tin rằng vùng đó vừa bị đánh bom, mà khi bom nổ đã có 8 dây bay ra tứ hướng, do đó, tất cả mọi người đều đặc biệt cẩn trọng và đề cao cảnh giác. Trước khi hành quân, ông còn cẩn thận dặn mỗi người hãy đi cách nhau khoảng chừng 400m, ông đi đâu thì các anh hãy cứ đi theo đó, theo dấu chân của ông là tiến thẳng. Dù vậy, trong hoàn cảnh ấy, con đường xuyên rừng thì vừa nhỏ, vừa hẹp, mà dây bom thì chỉ nhỏ tựa một sợi chỉ xanh, khiến tính mạng ông và đồng đội từng phút từng giây càng lâm vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Không may thay, trong đoàn có một anh chiến sĩ, người Hà Nội, gọi là anh Nhân, cũng đi theo dấu của ông, nhưng chỉ vừa lỡ bước ra bên phải chừng 2 bước mà vướng trúng phải sợi dây, hi sinh ngay trước ông và đồng đội. Vội vàng, ông cùng đoàn mình quay lại đem thi thể anh theo và lần ra ngoài đường chính, bước đi mà lòng không khỏi tiếc thương cho người lính, vừa lo sợ bản thân cũng có thể sẽ dẫm phải những sợi dây này. Ra tận ngoài đó, tốp đoàn ông cho huy động xe để đưa anh vào Lệ Thuỷ, giao công tác hậu sự cho đội chôn cất liệt sĩ ở đây. Việc vận chuyển thi hài anh Nhân kéo dài những ba ngày ba đêm, bởi trên đường đi, đoàn xe liên tục bị cản trở bởi loại bom B52 giáng xuống, khiến chỉ huy phải cho xe quay lại, khiêng thi hài anh đặt ở những vị trí thật sâu dưới hầm để tránh ảnh hưởng bom đạn. Mà đến ngày thứ ba, điều kiện môi trường xung quanh đã làm thi thể anh chẳng còn nguyên vẹn, mà dần trở nên thối rữa, khiến dòi bọ lổm nhổm bò ra khỏi hòm, lên vị trí các anh chiến sĩ trên xe vận chuyển. Năm anh lính đi theo, ngồi trên xe, bị dòi bọ bò ngược cả lên người, khiến các anh chỉ có thể uống nước và ăn đôi miếng lương khô cầm cự qua ngày chứ không thể nuốt trôi một hạt cơm. Lần khác, thời điểm mà ông đang đảm nhiệm là trợ lí tham mưu trên tiểu đoàn, vừa hay tin bên quân có một chiến sĩ đồng hương, sống ở cùng thôn với ông, vì pháo 175mm mà đã hi sinh anh dũng ngay tại trận địa, ông gấp rút bố trí cho người lấy xe để đưa anh về, nhưng một lần nữa, công tác vận chuyển lại kéo dài hơn dự tính khi đoàn xe chỉ có thể đi ban đêm để tránh tai mắt của bọn Mỹ. Đến nơi, về nghỉ tại đồi, mệt lử cả người, ông nằm ngay xuống nền đất ẩm, khi đó, chỉ mới chừng 1 đến 2 giờ sáng, núi rừng cảnh vật đã chìm trong giấc nồng, chỉ còn vài tiếng lét két của dế và tiếng dân quân xuống núi ngày càng xa dần, vội vàng chuẩn bị đồ đạc để tổ chức lễ khâm niệm cho người liệt sĩ. Nằm bên cạnh thi hài người chiến sĩ ấy, bất giác ông đưa tay mình ghì chặt tay anh, cứng đờ và lạnh toát, thế nhưng, với thể lực của một chiến sĩ trẻ, ông vẫn cứ thế mà nắm chặt bàn tay ấy mãi không buông, như thể mong ngóng cảm nhận được chút hơi ấm còn sót lại trên người đông hương ấy. Thế rồi, cơn mê kéo đến khiến ông mệt nhoài mà ngủ thiếp đi, cho đến khoảng sáu giờ sáng, đến khi nghe tiếng người vọng lên từ dưới đồi, ông mới choàng tỉnh dậy, vẫn tay trong tay nắm chặt lấy người liệt sĩ, rồi cuối cùng cũng ngậm ngùi mà buông ra và hoà cùng quân dân tổ chức lễ khâm niệm cho anh lính trẻ và tiến hành chôn cất thi hài anh.
Kéo dài 12 năm, cuộc đời người linh của ông khép lại là những ngày tháng lịch sử trong trận đánh cuối cùng vào tháng 4 năm 1975. Lần đó, ông theo đội hình Quân đoàn 2 tiến vào Sài Gòn. Khi cánh quân của ông vừa đến cầu Thị Nghè, thì các sư đoàn khác đã tiến nhanh chóng tiến đến cổng Dinh Độc Lập. Ngày 5/5/1975, hoà cùng không khí náo nức của độc lập, ông cùng đồng đồi kéo nhau vào Dinh để cùng chụp lại ảnh kỉ niệm, như để ghi lại một cột mốc đáng nhớ trong ngày tháng chiến đấu nơi quân ngũ của ông và các anh em chiến chỉ. Buổi sáng, cổng chính Dinh đông nghịt người, khiến nhóm ông phải chen ra phía tây để chụp lại 1 “pô”, bức ảnh mà sau này đã được đóng trong một chiếc khung vàng tinh tế và được treo trên mảng tường lớn cạnh bàn trà như kỷ niệm duy nhất còn sót lại của những ngày tháng tự hào ấy. Trở về sau khi hoà bình đã lập lại, tháng 12 năm 1976, ông chuyển ngành, rời quân đội về làm kinh tế tại Lâm trường Tuyên Hóa. Xuất thân là một cán bộ quân đội, đã quen với tay cầm súng và mùi thuốc súng khói đạn, giờ đây ông phải nhanh chóng hòa nhập và học hỏi kinh nghiệm làm kinh tế, với quyết tâm phải làm cho bằng được mới thôi. Với sự nỗ lực và kiên cường, ham học hỏi vốn có của người lính, ông đã sớm thích nghi dần với cuộc sống hiện thời rồi được bổ nhiệm làm cán bộ hành chính trong 3 năm trước khi được bầu vào Đảng uỷ viên và phụ trách nhiệm vụ làm đội trưởng đội khai thác, đội ô tô, sau là chuyển sang đội cầu đường để mở đường khai thác tài nguyên gỗ. Đến năm 1987, ông chính thức nghỉ hưu. Dù cuộc sống thời bao cấp còn nghèo khó, nhưng với kiến thức và kinh nghiệm tích lũy, ông tiếp tục góp sức cống hiến hết mình cho quê hương. Từ năm 1989, ông giữ chức Bí thư Chi bộ xã Tiến Hóa cũ, cho đến năm 2001, đến năm 2002 thì ông từ chức, gương mẫu đảm nhiệm chức trách của bản thân trong nghót nghét 12 năm ròng. Đặc biệt, phải nói rằng điều khiến ông tự hào nhất trong suốt thời gian làm Bí thư chính là việc khởi xướng và chỉ huy xây dựng hệ thống giao thông nông thôn của xã. Ý tưởng này nảy sinh sau chuyến thăm Làng SOS ở Sài Gòn năm 1989 cùng người thân, tận mất thấy những cung đường đẹp đẽ, trải dài xa tít tắp, nối liền các khu phố, khiến ông bất giác đăm chiêu nghĩ, dù thế nào cũng phải bằng được xây dựng cho quê nhà một hệ thống đường như này. Dám nghĩ, dám làm, thế rồi, với sự đồng tình và giúp sức của Đảng, ông đã vận động, chỉ huy nhân dân phát quang cây cối để mở đường, bắt đầu với đường chính rộng 4m. Công trình này không chỉ tạo điều kiện phát triển kinh tế mà còn củng cố tinh thần đoàn kết, ý chí xây dựng quê hương của nhân dân, nhưng đối với ông, nó như là một di sản, một món quà vô giá mà ông mong muốn gửi gắm lại cho hậu thế.
Kết lại, có thể nói rằng cuộc đời của cựu chiến binh Nguyễn Đăng Khoa là một minh chứng sống động cho tinh thần "vì nước quên mình" của thế hệ cha ông. Trải qua 12 năm chiến đấu ác liệt, từ Vĩnh Linh, Quảng Trị đến Nam Lào và những giây phút lịch sử tại Sài Gòn, ông là hình ảnh tiêu biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong văn học Việt Nam, vừa là người lính gan dạ, mưu trí nơi chiến trận, vừa là người đồng đội nhân hậu, sâu tình nặng nghĩa. Ngay cả khi hòa bình lập lại, ông vẫn tiếp tục cuộc chiến mới trên mặt trận kinh tế và dựng xây quê hương. Những con đường giao thông ở xã Tiến Hóa hôm nay là di sản quý giá, là "chiến công" thầm lặng của người quân nhân năm xưa. Lắng nghe câu chuyện của ông đã để lại trong em thật nhiều chiêm nghiệm, chúng không chỉ là đơn thuần là ký ức, cảm xúc nội tâm kết từ trong sâu thẳm của một cá nhân mà còn là bài học lịch sử sâu sắc, nhắc nhở thế hệ chúng ta - những mầm non tương lai của nước nhà về giá trị của hòa bình và trách nhiệm giữ ngọn lửa yêu nước luôn cháy trong trái tim mỗi thế hệ người con đất Việt, cũng như xây dựng đất nước từ những điều bình dị nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn