Đoàn Minh Huyên (1807-1856)
Ông Đoàn Minh Huyên sinh năm 1807, quê ở thôn Tông Sơn, tống An Thạnh Thượng, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang (nay thuộc xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp). Chưa tô cha mẹ là ai, thuở nhỏ sinh sống, học hành như thế nào, lưu lạc ở đâu.....
Vào mùa thu năm Kỷ Dậu (1849), khi nhân dân miền Hậu Giang bị bệnh thời khi nhiều hại, ông trở về ngụ ở mái hiên đình Tòng Sơn, rồi từ đó đi Trà Đư, Kiên Thạnh (nay là xã Long Kiên, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang)... trổ tài trị bệnh cứu dân. Song song với việc trị bệnh, ông khuyên mọi người nên ăn ở cho phải đạo làm người, biết thờ bồn ân lớn (Từ Ân): ăn đất nước, ăn cha mẹ, ân đồng bào nhân loại và ăn tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) và phát lòng phải có ghi bồn chữ "Bửu Sơn Kỳ Hương" cho những người chịu quy y thọ phái. Người tu theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ tu tại nhà, không xuống tóc, không mặc cà sa, không chuông mô, không thô tượng Phật. Số người đền chữa bệnh và quy y ngày một đông. Ông đi đến đâu, thì có nhiều người tập trung ở đó nên chính quyền An Giang nghi ngờ ông là gian đạo sĩ, hoạt động chính trị nên bắt giam nhưng vì không có bằng chứng nên phải trả tự do cho ông. Song ông bị buộc phải quy y theo đạo Phật (phải Lâm Tê) và tu tại chùa Tây An, dưới chân núi Sam (Châu Đốc). Từ đó, ông được gọi là Phật Thấy Tây An.
Dù bị chỉ định cư trú, song ông vẫn đi lại khắp miền Hậu Giang phố biển giáo lý Tứ Ân, vận động nông dân nghèo khổ hình thành bồn trung tâm khẩn hoang ở Đồng Tháp Mười, Núi Két, Láng Lĩnh, Cái Dầu.
Mỗi trung tâm do một đại đệ từ phụ trách, hình thành những trại ruộng, quy tập nông dân khai hoang làm ruộng, hướng dẫn tín đồ tu học:
- Ở Trà Bồng, Cần Lò, rạch Ông Bường (Đồng Tháp Mười), giao cho ông đạo Ngoạn. - Ở Cái Dầu, ông đạo Xuyên phụ trách.
- Ở Núi Két do ông Đình Tây trông coi.
- Ở Láng Linh do Quân cơ Trần Văn Thành phụ trách.
Vừa trị bệnh cứu người, vừa quy tụ nông dân nghèo khai hoang, vừa phố biển giáo lý Tứ Ân, mà trong đó ân đất nước được xem là ăn trọng hơn hết. Ông Đoàn Minh Huyên đã sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, một phong trào nông dân yêu nước, trại ruộng chỉ là hình thức, thực chất là căn cứ tập hợp nông dân chồng lại chính sách cai trị hà khắc của nhà Nguyễn.
Ông bệnh và qua đời vào năm 1856. Trại ruộng Bửu Hương Các ở Láng Lĩnh trở thành căn cứ chồng Pháp (Láng Linh - Bảy Thưa), sau khi Pháp chiêm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ và tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương là những nghĩa quân. Cuộc khởi nghĩa Láng Lĩnh - Bảy Thưa (1867 - 1873) do Trần Văn Thành, một đại đệ tử của Đoàn Minh Huyên lãnh đạo là đỉnh cao trong việc thực hiện giáo lý Tử Ân của Bửu Sơn Kỳ Hương. Giáo lý Tứ Ân của Bửu Sơn Kỳ Hương là tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân ở đồng bằng sông Cửu Long.
Mộ ông Đoàn Minh Huyên hiện ở dưới chân núi Sam (Châu Đốc) và tại Tông Sơn, nơi phát tích đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, nhân dân đã xây đến thờ tướng niệm ông, ngày đêm khói hương không dứt.



