Đoàn phường Khánh Hậu (49)
Câu chuyện về Phan Bội Châu (1867–1940) là bản anh hùng ca về một trí thức phong kiến đã tự mình tìm đường cứu nước theo xu hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX. Ông được đánh giá là “vị tiền bối cách mạng”, người khởi xướng những phong trào mang tầm vóc quốc tế cho dân tộc Việt Nam.
Phan Bội Châu (tên cũ là Phan Văn San) sinh ra tại làng Đan Nhiễm, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, đỗ Giải nguyên (thủ khoa) kỳ thi Hương tại Nghệ An năm 1900. Tuy nhiên, thay vì chọn con đường làm quan để hưởng vinh hoa, ông lại chọn dấn thân v
|
ào con đường đầy hiểm nguy.Trong vòng 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, Phan Bội Châu bôn ba khắp nước Việt Nam kết giao với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu La Nguyễn Thành), Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Sĩ Kiện, Lê Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại,...
Phan Bội Châu đả kích việc thực dân Pháp cấm giảng dạy lịch sử Việt Nam mà thay vào đó là lịch sử Pháp, nhằm dụng ý xóa bỏ những ảnh hưởng của văn hóa truyền thống Việt Nam, truyền bá văn hóa Pháp nhằm đồng hóa người Việt; đồng thời đào tạo ra một tầng lớp công chức và chuyên viên phục vụ cho nền cai trị và công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp. Năm 1905 Phan Bội Châu chỉ trích nền giáo dục của thực dân Pháp ở thuộc địa là “chỉ dạy người Việt viết văn Pháp, nói tiếng Pháp, tạm thời làm nô lệ cho Pháp”.
Năm 1904, tại Quảng Nam, Phan Bội Châu cùng các đồng chí thành lập Duy Tân Hội, tôn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, một người thuộc tôn thất nhà Nguyễn làm hội chủ để tranh thủ sự ủng hộ cuả nhiều tầng lớp nhân dân. Đây là bước ngoặt quan trọng, chuyển từ đấu tranh tự phát sang có tổ chức.
Phong trào Đông Du (1905–1909):
Năm 1905 ông cùng Đặng Tử Kính và Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi sang Nhật Bản, để cầu viện Nhật giúp Duy Tân hội đánh đuổi Pháp. Tại Nhật, ông gặp Lương Khải Siêu, một nhà cách mạng người Trung Quốc, và được khuyên là nên dùng thơ văn để thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Lại nghe hai nhân vật quan trọng của Đảng Tiến Bộ đang cầm quyền ở Nhật Bản, là Ōkuma Shigenobu (Bá tước Ôi Trọng Tín) và Thủ tướng Inukai Tsuyoshi (Khuyển Dưỡng Nghị) khuyên là nên cổ động thanh niên ra nước ngoài học tập để sau này về giúp nước. Ông đã tổ chức đưa hàng trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập quân sự và kỹ thuật.Chính sử ghi nhận đây là lần đầu tiên thanh niên Việt Nam ra nước ngoài với tư duy “vô sản hóa” và tiếp cận văn minh thế giới. Cuốn Việt Nam vong quốc sử do ông viết tại Nhật đã gây chấn động tâm tư người dân trong nước, khơi dậy lòng yêu nước mạnh mẽ.
Bài mở đầu sách Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu viết:“Không có gì đau bằng người mất nước, cũng không có gì đau bằng người bị mất nước mà bàn việc nước! Tôi muốn viết đoạn sử mất nước này, nhưng đã bao phen lệ cạn huyết khô, mà cơ hồ không viết nổi chữ nào. Nay nhân Ẩm Băng Thất (Lương Khải Siêu, 1873-1929) nói: “Than ôi! Tôi với ông thật là đồng bệnh. Những việc tàn ác của người Pháp thi hành ở Việt Nam, cả thế giới chưa ai biết đến. Ông hãy nói cho tôi rõ, tôi sẽ vì ông mà truyền bá, may ra có thể kêu gọi được dư luận của thế giới”...Tôi nghe nói lấy làm cảm động, gạt nước mắt mà viết cuốn Việt Nam vong quốc sử này”
Tháng 9 năm 1908, Pháp và Nhật ký với nhau một hiệp ước, theo đó chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất các du học sinh người Việt ra khỏi đất Nhật. Phan Bội Châu sang Trung Quốc. Ảnh hưởng từ cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) đã khiến ông thay đổi tư duy từ quân chủ lập hiến sang dân chủ cộng hòa.
Năm 1912, ông thành lập Việt Nam Quang phục Hội với mục tiêu: “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập Cộng hòa Dân quốc Việt Nam”. Hội đã tổ chức một số vụ ám sát quan lại thực dân nhưng bị Pháp đàn áp dã man. Bản thân cụ Phan bị bắt giam tại Quảng Đông (Trung Quốc) từ năm 1913 đến 1917.
Năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải và đưa về nước xét xử. Thực dân Pháp định kết án tử hình ông, nhưng một làn sóng đấu tranh đòi thả tự do cho Phan Bội Châu đã bùng nổ khắp cả nước.
Đây là sự kiện hiếm hoi trong lịch sử thuộc địa khi áp lực dân chúng buộc Pháp phải đại xá và đưa ông về an trí (giam lỏng) tại Huế.Từ năm 1926 đến 1940, ông sống tại dốc Bến Ngự (Huế). Dù bị cách ly với các hoạt động chính trị, nhưng nhà cụ Phan trở thành tụ điểm văn hóa, giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ (trong đó có cả những nhà cách mạng tiền bối sau này.
Chính sử và sử học hiện đại đánh giá Phan Bội Châu là nhịp cầu nối giữa hai thời đại. Ông là người đầu tiên đưa vấn đề cách mạng Việt Nam ra tầm quốc tế, xây dựng mối quan hệ với các lực lượng tiến bộ ở Nhật Bản và Trung Quốc. Ông dùng ngòi bút làm vũ khí. Văn thơ của Phan Bội Châu (như Hải ngoại huyết thư, Ngục trung thư) có sức mạnh làm thay đổi tư duy của cả một thế hệ trí thức.
Sự thất bại của các phong trào do ông lãnh đạo cho thấy con đường dựa vào ngoại bang (Nhật Bản) hoặc bạo động lẻ tẻ khi chưa có đường lối giai cấp rõ ràng là chưa đủ.
Dù vậy, tinh thần “không làm nô lệ” của cụ Phan đã dọn đường cho sự ra đời của các tổ chức cách mạng sau này, bao gồm cả thế hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dù hành trình cách mạng gặp nhiều gian truân và ông phải chịu cảnh bị giam lỏng tại Bến Ngự (Huế) trong những năm cuối đời, nhưng ý chí của Phan Bội Châu chưa bao giờ lung lay. Ông trở thành biểu tượng cho tinh thần đấu tranh không mệt mỏi và lòng kiên trung bất khuất trước kẻ thù. Câu chuyện về cụ Phan là minh chứng cho truyền thống yêu nước của người Việt: dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, tấm gương của cụ Phan Bội Châu mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Lòng yêu nước không chỉ là chiến đấu trên chiến trường, mà còn là khát vọng không ngừng học hỏi, mở mang trí tuệ để đưa đất nước vươn tầm thế giới. Tinh thần ấy vẫn luôn sống mãi, nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm giữ gìn và phát huy những giá trị tự do mà cha ông đã đánh đổi cả cuộc đời để gây dựng.




