Bài viết

Đoàn phường Khánh Hậu (58)

Tây Ninh25/06/2026Đoàn phường Khánh Hậu (Đoàn phường Khánh Hậu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau tết, đơn vị lên đường tham gia chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh. Trước khi ra trận, mọi người được quán triệt phương châm chỉ đạo của cấp trên là: “ Trường Sơn chuyển mình/ Pô Kô dậy sóng/ Quét sạch quân thù/Giải phóng Tây Nguyên.Là người lính mới vào chiến trường, chúng tôi được phổ biến rằng, đây là một chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay ở mặt trận Bắc Tây Nguyên, nhằm phối hợp với chiến trường Bình – Trị – Thiên tạo nên một sức ép quan trọng buộc địch phải ký Hiệp định Pa Ri, vì vậy ai nấy hào hứng phấn khởi. Toàn đại đội được chia làm hai cánh, cánh Đông và cánh Tây, phục vụ các trận địa pháo phối hợp với các sư đoàn chủ lực, tạo thành hai gọm kìm chủ yếu của quân ta bao vây cứ điểm Đắc Tô -Tân cảnh.

Toàn cảnh Đắc Tô – Tân Cảnh năm 1972

Để chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử này, Mặt trận B3 được trên tăng cường thêm Trung đoàn pháo binh 675, mật danh là Lâm Đồng (có Đ74,122, cối 160), một đại đội B72, một tiểu đoàn xe tăng T54, 1 tiểu đoàn pháo 85. Mục tiêu trước mắt của chiến dịch là Trung đoàn 42, Sư đoàn 22 ngụy đóng ở Tân Cảnh. Theo kế hoạch của ta, một cụm pháo gồm lựu 122 ly,cối 160 ly, B72, cao xạ 37 ly, tăng T54 được lệnh bí mật vòng sang phía đông đường 14 để đánh vào phía sau căn cứ Đắc Tô -Tân Cảnh. Theo đó, C17 đã cử một nhóm trinh sát đi cánh Đông chuẩn bị chiến trường từ trước tết.

Đúng lúc cả đơn vị náo nức chuẩn bị lên đường đi cánh Tây thì tôi lên cơn sốt rét, đây là trận sốt đầu tiên kể từ ngày nhập ngũ, thế là đành phải ở lại đi sau. Sốt rét rừng thật lạ, lúc đầu chỉ cảm thấy nhức đầu, chóng mặt, rồi đột ngột rét rung tăng võng, đắp bao nhiêu chăn, màn cũng vẫn run, sau đó toàn thân nóng bỏng, đạp hết chăn màn ra mà vẫn nóng, cơ thể rã rời, buồn nôn, đi tiểu màu hồng, sợ mùi cơm và khát kinh khủng. Nghe cánh lính cũ kể lại trước đây, khi chưa có thuốc Ni-va-quytim thẳng vào mông, nhiều trường hợp sốt cao biến chứng thành ác tính dẫn đến tử vong chết oan.

Sau một tuần thuốc thang tiêm chọc thì hạ sốt, tôi và Thành “còi” cũng vừa khỏi ốm, lên đường nhưng là để tăng cường cho cánh đông. Trên đường ra phía trước, chúng tôi gặp một đoàn dân công hỏa tuyến gùi gạo đạn ra tiền phương, trong đó có một cô gái khá xinh và có nụ cười rất đẹp. Nụ cười giữa Trường Sơn của cô gái lạ ngày ấy, cứ ám ảnh tôi mãi, đến nỗi sau này tôi phải vẽ nụ cười đó vào bài thơ với tựa đề “Nụ cười Trường Sơn” mà tôi đăng trong phần sau cuốn sách này, để chia sẻ cảm xúc cùng đồng đội và bạn đọc. Âu cũng tại cái tâm hồn văn chương thơ phú nó vận vào tôi suốt thuở học trò, nhưng cũng chỉ làng nhàng cho vui vậy thôi.

Ấn tượng về nụ cười của người con gái trên đường ra trận chưa kịp thành thơ thì những thử thách mới đã đến. Đó là tình trạng đói mệt sau những ngày vừa cắt sốt, đến nỗi phải bới tìm từng mẩu sắn, miếng cơm cháy thừa sót lại, từ một bếp ăn dã chiến của một đơn vị nào đó vừa đi qua để lót lòng. Đó là đường rừng thì heo hút, thăm thẳm, phải vừa đi vừa dò ký hiệu để tránh lạc đường. Sau gần một tuần lầm lũi xuyên rừng, vượt suối, chúng tôi gặp được bộ phận đi chuẩn bị chiến trường trước tết của C17. Gặp đơn vị mừng như về tới nhà, lúc này tôi mới biết mặt anh Thục, quê An Lão, Hải phòng, trung đội trưởng của tôi.Thấy tôi hay hí hoáy viết nhật ký, anh Thục bảo nghề trinh sát của chúng mình không được phép mang theo thư từ, nhật ký vào trận đâu và yêu cầu tôi phải hủy cuốn nhật ký đi. Mặc dù dày công ghi chép suốt 3 tháng vượt Trường Sơn nhưng tôi đành tuân lệnh đốt đi trong sự tiếc nuối vô cùng.

Nhưng oái oăm thay, gặp được đơn vị hai hôm thì tôi bị sốt trở lại, lần này nặng hơn lần trước. Đúng như cánh lính cũ nói, ai sốt lần đầu cũng vậy, sốt lai rai, tái đi tái lại cho tới khi cơ thể thích nghi với loại ký sinh trùng sốt rét thì mới giảm, mới quen dần với cái sốt của Tây Nguyên. Thấy tôi sốt cao quá, anh Thục sai người khiêng tôi vào trạm xá tiền phương của Đội điều trị 25 gần đó. Nói là trạm xá, nhưng thực ra là những căn hầm nửa chìm nửa nổi, núp dưới tán rừng rậm rạp, bên khe suối nhỏ, cây riềng dại mọc um tùm cao hơn đầu người. Tôi được xếp nằm cạnh một chiến sĩ bộ binh bị thương nặng ở chân phải, vừa đưa từ tuyến trước về. Vết thương của cậu ta đã hoại tử, họ quyết định cắt bỏ tới đùi nếu không sẽ nguy hiểm tính mạng. Do thiếu thuốc gây mê, nên người ta phải trói chặt chân tay cậu ta để cưa sống. Nằm cạnh hầm phẫu, tôi nghe rõ tiếng cưa xèn xẹt đến ghê răng. Chàng thương binh la hét khủng khiếp rồi lịm đi, đến khi tỉnh lại vẫn còn kêu khóc đòi trả lại cái chân đã mất. Do thiếu người nên họ giao cho tôi và một bệnh binh khác đem cái chân đó đi chôn, lúc đó tôi có cảm giác cái chân của chàng thương binh ấy sao nặng thế.

Tối đó, có lẽ do bị ám ảnh sự kiện trên, thêm vào sốt cao nên tôi đã không làm chủ được, nói năng huyên thuyên, cười khóc như điên loạn. Mọi người biết là tôi bắt đầu lên cơn ác tính liền đè tôi xuống, đưa thanh tre vào ngang miệng đề phòng tôi cắn lưỡi và tiêm chọc liên tục. Tôi mêman bất tỉnh cho tới mãi hôm sau. Thường thì sốt ác tính dễ gây tử vong, nhưng rất may tôi được cứu chữa kịp thời. Sau trận đó, người tôi cứ như kẻ mất hồn, đầu nặng như chì, nhức như búa bổ, hai tay hai gậy chống mà đi không nổi, mắt hoa, tai ù, sợ cơm, khát nước và gày tọp đi rất nhanh.

Thế rồi nhờ tuổi trẻ, lại quen lao động nặng từ tấm bé nên chỉ mươi ngày làtôi hồi phục,trạm xá có ý giữ tôi lại để phục vụ thương bệnh binh nhưng tôi từ chối và nhất quyết đuổi theo đơn vị đang ở phía trước. May thay gặp được anh Bốn người Quảng Bình, một cựu binh ở đơn vị tăng gia của Trung đoàn 40, kết thành đôi bạn hỏi đường, tiến dần lên phía trước. Thấy tôi vác khẩu CKC dài nghêu, anh Bốn luôn mồm trêu trọc “ Hai tay cầm khẩu súng dài/ ngắm đi ngắm lại bắn ai thế này”. Tôi tự ái nhưng đành bấm bụng và thầm mong một ngày sớm được đổi khẩu AK cho ra dáng.

Cứ thế ngày đi, đêm nghỉ trên con đường công binh mới mở, được ngụy trang kín đáo. Đêm đêm, chúng tôi nghe rõ tiếng xe Zin 130, Zin 3 cầu kéo nhau vượt dốc, tiếng xe tăng T54 gầm gừ nhích từng đoạn, dưới ánh đèn gầm le lói, để tiến dần ra mặt trận. Sáng sau, mọi dấu vết của xe pháo lại được xóa nhòa.

Vào một buổi chiều, hai chúng tôi tạt vào một cánh rừng le ven đường nghỉ tạm, chờ trời tối hẳn sẽ vượt ngầm sông Pô Cô. Nào ngờ nơi đây chính là chỗ tập kết thương binh, tử sĩ của một đơn vị bộ binh đánh cao điểm Ngọk Pếch gần đó chuyển về. Nhìn đồng đội băng bó đầy mình nằm la liệt trên mặt đất, trên võng và nghe tiếng rên, khóc của những người bị thương nặng, khiến chúng tôi không sao chịu nổi đành vội vã cuộn tăng võng lên đường đi tiếp.

Thấy yên ắng, chúng tôi quyết định vượt sông. Vừa qua được ngầm thì một máy bay AC130 gầm gào xuất hiện, bay sát mặt sông tìm kiếm mục tiêu, chúng tôi vội tìm chỗ ẩn tránh. Sau phút định thần, tôi phát hiện cây nhiệt đới ngay bên mình, bề ngoài nó giống hệt một canh cây khô, từ vị trí này, “nó” có thể “nghe rõ” tiếng động cơ xe tăng, cơ giới của ta vượt sông. Để vô hiệu hóa thiết bị này, tránh tai họa cho các đơn vị bạn, chúng tôi cẩn thận túm buộc râu ăng ten của nó lại.

Khi chiếc AC130 vòng xa, hai người tụt xuống đường đi tiếp. Đường đá lồi lõm ổ gà ổ trâu, thi thoảng còn sót lại vài mảng nhựa đường do lâu ngày bỏ hoang khô bong nứt nẻ. Chúng tôi đi được chừng trăm mét thì máy bay địch vòng lại, lần này nó đã phát hiện ra cái gì đó nên bắt đầu bắn phá dữ dộị. Một số máy bay phản lực cũng lao đến cắt bom, lửa cháy rừng rực hai bên đường. Không còn cách nào khác, chúng tôi đành đổ nước bi đông vào khăn mặt, bịt mặt và liều mạng băng mình qua khói lửa, cứ mặt đường mà chạy, mặc cho lửa táp cháy trụi cả hàng mi. Chạy được chừng vài trăm mét thì phát hiện vết xe rẽ vào cánh rừng le bên trái, đoán chừng có quân ta trong đó, chúng tôi quặt vào. Quả nhiên, một chiếc xe Zin 130 đang gầm gừ lùi tiến tránh lửa, lái xe là Ma Văn Bàn, người Hòa An, Cao Bằng (Bàn là anh trai cậu Ngọc, lính vào C17 năm 1974). Gần đó là những hầm chứa đạn pháo của ta. Hóa ra đây chính là mục tiêu săn lùng, bắn phá của AC130 suốt chiều tới giờ. Tình thế thật nguy cấp, lửa cháy đang liếm dần vào kho đạn, chúng tôi cùng một đơn vị gần đó lao vào bốc đạn chuyển đi nơi khác. Những quả đạn pháo to đùng vừa tròn, vừa nặng, khiến tôi loay hoay xoay sở mãi mới đưa được nó được lên vai. Tối đó, tôi ngủ lại tại một đơn vị của Trung đoàn và sáng hôm sau tiến dần về quận lỵ Đắc Tô.

Phương án chuẩn bị đánh địch cánh Đông bất ngờ với địch, nhưng vô cùng gian khổ đối với ta, vì phải bí mật tuyệt đối mở một con đường dài khoảng 80 km, xuyên qua những cánh rừng già kín đáo để xe tăng và pháo binh áp sát mục tiêu. Dù bí mật, kín đáo là vậy nhưng tụi cán gáo, L19, OV 10 vẫn ráo riết săn lùng và liên tục bắn phá suốt ngày đêm. Đặc biệt do mùa mưa đến sớm, đường mới mở trơn lầy, nhiều dốc, quân địch đã phát hiện, quân mới vào chiến trường, sốt rét nhiều, ăn đói, công việc chuyển đạn, đào hầm nặng nhọc. Trong khi đó, mặt trận cánh Tây Ngọc Bờ Biêng cũng không ít khó khăn, nhất là đạn Đ74 thì nặng, pháo thủ thì nhỏ người, ăn đói quá nên không đủ sức nạp đạn, đến nỗi cấp trên phải cho họ hưởng chế độ “đặc cách” được ăn 6 lạng gạo một ngày…

Đúng 5 giờ sáng ngày 24/4/1972, pháo của Trung đoàn 40 đồng loạt trút đạn xuống căn cứ Đắc Tô – Tân cảnh. Cùng lúc xe tăng T54, pháo tự hành 57 ly và tên lửa B72 là những vũ khí, khí tài hiện đại lần đầu xuất hiện ở chiến trường B3 đã gây kinh hoàng cho kẻ địch. Cả mặt đất, bầu trời rền vang tiếng súng. Từ trên cao tít, từng tốp Pháo đài bay B52 không ngớt ném bom trải thảm tạo nên những bức tường khói lửa dài hàng cây số. Thấp hơn là từng đàn phản lực AD6, A37, AC 130, trực thăng gầm gào, nhào lộn ném bom, bắn đạn 20 ly hòng ngăn chặn các mũi tiến công của quân ta. Tại sân bay Đắc Tô, xe tăng 377 của ta đã tả xung hữu đột, bắn cháy 7 xe tăng địch, trước khi bị trúng đạn hy sinh. Sau nhiều giờ giao tranh ác liệt, chiều 24/4/1972 quân ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Đăk Tô -Tân Cảnh. Chúng tôi được lệnh hành quân cấp tốc xuôi theo đường 14 để tiến đánh thị xã Kon Tum.

Sau khi băng qua quận lỵ Đắc Tô bằng lối đi kẹp giữa những hàng rào kẽm gai của khu ấp chiến lược, rồi vượt qua thị trấn Tân Cảnh còn vương mùi đạn bom và xác địch bắt đầu phân hủy gây mùi khó chịu, chúng tôi tới được xã Diên Bình. Cầu Diên Bình đã bị quân ta đánh xập trước đó vài ngày nên phải vượt ngầm Đak Bla. Bộ đội và xe pháo đang vượt ngầm thì một chiếc C130 ập tới, rà sát mặt sông, mọi người chạy tản ra trú ẩn, không hiểu vì sao chúng không bắn phá như mọi lần, chắc hết đạn. Tối hôm đó, chúng tôi nghỉ lại trong một cánh rừng tái sinh gần bản Kon Hrinh ven đường 14. Tôi được đổi cây súng CKC dài ngoẵng lấy khẩu AK Tiệp, nghe nói của một chiến sĩ vừa hy sinh. Sáng hôm sau, tôi được giao nhiệm vụ theo tổ đài trinh sát thọc sâu cùng bộ binh vào đánh thị xã Kon Tum.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn