ĐOÀN SINH HƯỞNG – NGƯỜI ANH HÙNG TUỔI ĐÔI MƯƠI TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN
ĐOÀN SINH HƯỞNG – NGƯỜI ANH HÙNG TUỔI ĐÔI MƯƠI TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN
Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Sinh Hưởng sinh năm 1949, quê gốc xã Bình Ngọc, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Sinh ra ở vùng đất địa đầu Tổ quốc, ông trưởng thành trong những năm đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1966, khi mới 17 tuổi, Đoàn Sinh Hưởng nhập ngũ. Từ một người lính trẻ, ông từng bước trưởng thành trong môi trường quân đội và sau đó trở thành cán bộ chỉ huy xe tăng. Những năm tháng chiến đấu đã tôi luyện ở người sĩ quan trẻ bản lĩnh, sự quyết đoán, tinh thần trách nhiệm và khả năng chỉ huy trong những tình huống đặc biệt khó khăn.
Đầu năm 1975, khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân bước vào giai đoạn quyết định, Đoàn Sinh Hưởng khi ấy là Thiếu úy, Đại đội trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 273, Quân đoàn 3. Đơn vị của ông tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, một chiến dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cục diện chiến trường miền Nam. Trong những trận đánh tại Buôn Ma Thuột, ông cùng đơn vị phối hợp với bộ binh tiến công các vị trí quan trọng, góp phần phá vỡ hệ thống phòng thủ của đối phương và tạo điều kiện để lực lượng ta làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột. Những ngày tháng ấy cũng ghi dấu sự trưởng thành đặc biệt của một người chỉ huy mới ngoài hai mươi tuổi.
Sau thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, lực lượng xe tăng tiếp tục tham gia các trận đánh trên hướng phát triển của chiến dịch. Trong trận đánh tại Tuy Hòa, Phú Yên ngày 1-4-1975, Đoàn Sinh Hưởng tiếp tục thể hiện khả năng chỉ huy và tinh thần chủ động của người cán bộ xe tăng. Những thành tích trong Chiến dịch Tây Nguyên và các trận đánh tiếp theo đã góp phần làm nên bước phát triển nhanh chóng của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975.
Những ngày cuối tháng 4-1975, đơn vị của Đoàn Sinh Hưởng tiến vào khu vực Sài Gòn. Ngày 29-4, ông chỉ huy lực lượng phối hợp với bộ binh và đặc công tại khu vực Cầu Bông, góp phần đánh tan một lực lượng thiết giáp lớn của đối phương. Sau đó, đơn vị tiếp tục tiến công các mục tiêu quan trọng trong khu vực Sài Gòn – Gia Định. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, những người lính xe tăng đã cùng các lực lượng khác tiến vào trung tâm thành phố, góp phần vào thắng lợi ngày 30-4-1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Đáng chú ý, Đoàn Sinh Hưởng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1975 khi mới 26 tuổi, lúc đang mang quân hàm Thiếu úy và giữ cương vị Đại đội trưởng. Ông là một trong những người được phong tặng danh hiệu Anh hùng ở tuổi đời còn rất trẻ. Nhưng phía sau danh hiệu ấy không chỉ là những thành tích của riêng một cá nhân mà còn là công sức, sự hy sinh của biết bao đồng đội đã cùng ông chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh. Theo lời kể được Báo Quân đội nhân dân ghi lại, khi nghe tin mình được phong tặng danh hiệu Anh hùng qua đài phát thanh vào tháng 9-1975, điều ông nhớ đến trước tiên là những đồng đội đã hy sinh. Chi tiết ấy cho thấy phía sau những chiến công luôn là tình đồng chí, đồng đội và sự trân trọng đối với những người đã nằm lại trên chiến trường.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đoàn Sinh Hưởng tiếp tục học tập, rèn luyện và đảm nhiệm nhiều cương vị trong quân đội. Ông được đào tạo tại Học viện Quân sự và từng giữ nhiều vị trí chỉ huy, công tác trong lực lượng Tăng thiết giáp. Sau này, ông giữ cương vị Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp và Tư lệnh Quân khu 4. Dù đảm nhiệm những trọng trách cao hơn, dấu ấn của người Đại đội trưởng xe tăng năm nào vẫn gắn liền với những trận đánh mùa Xuân 1975 và hình ảnh một người chỉ huy trưởng thành từ thực tiễn chiến trường.
Cuộc đời và sự nghiệp của Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng là một câu chuyện tiêu biểu về quá trình trưởng thành của lớp thanh niên Việt Nam trong chiến tranh. Từ một chàng trai 17 tuổi nhập ngũ năm 1966 đến người Đại đội trưởng xe tăng được phong tặng danh hiệu Anh hùng khi mới 26 tuổi, rồi tiếp tục học tập, công tác và đảm nhiệm những cương vị chỉ huy quan trọng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hành trình ấy thể hiện rõ giá trị của lòng yêu nước, ý chí rèn luyện và tinh thần trách nhiệm. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, câu chuyện của ông không chỉ nhắc nhớ về một thời kỳ lịch sử gian khổ mà còn gợi lên bài học về sự trưởng thành qua học tập, kỷ luật, cống hiến và luôn biết trân trọng những người đã hy sinh cho độc lập, thống nhất của đất nước.



