Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐOÀN THANH PHƯƠNG - ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

ĐOÀN THANH PHƯƠNG - ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Vĩnh Long16/12/2025Nguyễn Thị Diễm My (Đoàn xã Trà Ôn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Thanh Phương, sinh năm 1942, tại Gò Xoài, Tân Mỹ, Trà Ôn. Trước cảnh nước mất nhà tan, thấy nỗi nhục của người dân mất nước, mất hết quyền tự do và bị áp bức bóc lột tàn nhẫn, ông nghĩ, phải quyết tâm đền nợ nước, trả thù nhà. Thực hiện ý nghĩ ấy, ông đã đi làm cách mạng. Năm 1961, ông vinh dự được kết nạp vào Đoàn Thanh Niên Lao Động Việt Nam. Sau đó, ông được phân công làm Phân đoàn trưởng, là người đoàn viên nằm trong đội hậu bị của Đảng, ông luôn quyết tâm phấn đấu cho xứng đáng với cương vị của mình. Ông có mặt hầu hết các trận chiến trên quê hương. Năm 1966, trên đường đi công tác bị chỉ điểm, hai đồng đội của ông bị ném lựu đạn chết tại chỗ. Riêng ông bị thương và bị bắt, tra tấn, tù đày từ 1966 - 1974. Trải qua nhiều gian khổ đau thương chồng chất bởi sự tra tấn dã man của kẻ thù tưởng chừng như không thể vượt qua nổi. Song bằng niềm tin mãnh liệt vào Đảng, vào lí tưởng cách mạng giúp ông vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năm 1995, ông nhận được vinh dự lớn lao đó là Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân.

Ngót 20 năm tham gia cách mạng, ngoài thời gian cầm súng chiến đấu trên quê hương ông bị giam cầm tù đày gần 9 năm ở nhiều nhà tù đặc biệt là nơi “địa ngục trần gian”- Phú Quốc. Cuộc chiến ác liệt, kiên cường nhất mà cả cuộc đời ông không bao giờ quên được, đó là những lần vượt ngục bất thành, bị tra tấn dã man. Ông nhớ như in lần vượt ngục thứ nhất, bị địch bắt, bị tra tấn dùng kim xuyên 10 đầu ngón tay và đục 12 chiếc răng. Đó là vào những ngày đầu năm 1969, do có chút không khí tết nên bọn giám thị, quân cảnh không lùng sục kiểm soát gắt gao vô cớ như trước. Đây là cơ hội thuận lợi để tiến hành vượt ngục. Và khoảng hơn 1 giờ 30 phút sáng mồng tám tết Kỷ Dậu 1969, ông cùng bốn đồng chí thực hiện kế hoạch vượt ngục. Nhưng rồi khi đội hình vừa vượt qua lớp hàng rào thứ ba thì bị địch phát hiện, chúng bắn như mưa vào năm người tù và ba người đã chết tại chỗ. Riêng ông cùng một đồng chí sống sót bị chúng bắt về đánh một trận nhừ tử bằng báng súng rồi chúng còng cả tay và chân lại bỏ vào chuồng cọp. Sáng hôm sau, ông cùng một đồng chí sống sót bị lôi lên tiếp tục tra tấn. Và trung úy Hiển khét tiếng tàn ác, giết người không ghê tay, đặc biệt khi tra tấn tù binh Hiển có cú đá tuyệt chiêu, đá một phát là tù binh vỡ gan chết tại chỗ. Sau mười phút đánh thủ tục là đến màn tra khảo. Tên Hiển “Đá một phát chết một thằng” nên người đồng đội của ông đã không vượt qua được cái chết. Quan sát cảnh đồng đội mình bị tra tấn, linh cảm mách bảo sẽ đến lượt mình, ông nghĩ nhanh trong đầu tìm cách né tránh. Do chuẩn bị tâm thế trước, nên khi tên Hiển ra đòn ông đã né tránh được cú đá của hắn và dùng một tay bắt gọn chân nó, làm nó suýt ngã ngữa. Bị ngượng, Hiển cùng đồng bọn tìm trò khác trả thù. Bọn lính nhanh chóng lấy ra một cái lon đựng loại kim dài hai phân và một mớ giấy bìa các- tông. Tên Hiển lấy những cây kim trên đầu có miếng bìa các- tông đâm xuyên vào mười đầu ngón tay ông, sau đó dùng quạt điện cho quạt thổi mạnh làm những miếng bìa các- tông trên đầu kim rung bay lất phất. Ông đau đớn tê dại đến khi không thể chịu nổi, ông dùng hết sức đập mạnh cả hai bàn tay bị kim đâm vào vách tường để kim ngập sâu, giữ chặt miếng giấy các- tông, rồi người rũ gục xuống máu me bê bết và ngất xỉu. Tên Hiển cho quân lính tiếp tục nhốt ông vào chuồng cọp. “Chuồng cọp thép gai” được bố trí giữ sân, ngoài trời, được làm hoàn toàn bằng dây thép gai, được đan chằng chịt xung quanh và trên nóc như một hình hộp. Người bị nhốt không thể nằm, ngồi, hay cử động vì mỗi cử động nhỏ cũng bị kim đâm rách thịt, thấu xương. Sáng hôm sau bọn lính lại lôi ông ra khỏi chuồng cọp để tiếp tục hỏi cung, tra tấn. Gặp ông, nhìn thấy bàn tay ông không còn mười cây kim nữa, tên Hiển hỏi làm sao ông rút ra được, ông bảo ông dùng răng cắn rồi rút ra. Tên Hiển lồng lộn giở trò tra tấn khác. Đó là trò “đục răng” với hai dụng cụ là đục và chày. Đến 11 giờ trưa, sau màn đục răng bảy lần, mỗi lần đục là mỗi lần ông như chết đi sống lại máu me bê bết miệng mồm, chúng đã lấy mười hai cái răng của ông. Sau đó chúng lại ném ông vào chuồng cọp. Từ đây ông bị đày ải trong chuồng cọp, trần truồng, ngày phơi nắng phơi mưa, đêm phơi sương phơi gió đúng hai mươi chín ngày liền. Mỗi ngày chúng ném vào một nắm cơm vắt với muối hột và một lon nước nhỏ. Da ông cứ lột hết lớp này đến lớp khác, cơ thể ông quắt lại, khô héo, người không giống người, ngợm không giống ngợm. Niềm an ủi động viên duy nhất, lớn nhất của ông lúc này là ông may mắn còn sống, còn cơ hội để sống để tiếp tục chiến đấu giải phóng cho quê hương và tố cáo tội ác kẻ thù, vì vậy mà ông phải ráng sống.

Sau một tháng vượt ngục không thành bị giam cầm, bị tra tấn ông được trả về phòng giam cũ. Chính cuộc đấu tranh sinh tử của ông với bọn cai ngục và hình ảnh ông bị giam hãm trong chuồng cọp đã làm ông trở nên “nổi tiếng”. Bọn cai ngục, quân cảnh cũng như anh em tù binh ai cũng biết đến ông. Quá trình ông trải qua đã thể hiện bản lĩnh kiên cường, khả năng chịu đựng thử thách, sẵn sàng hi sinh của ông. Vì vậy sau mấy ngày được ra khỏi biệt giam về với đồng đội, ông nhận được tin vui, tin trọng đại của cuộc đời người lính, đó là ngày 3 tháng 2 năm 1969, ông được kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam. Được kết nạp vào Đảng ông như được tiếp thêm nguồn sinh khí mới, theo thời gian những vết thương của ông cũng đỡ đau hơn, sức khỏe dần hồi phục. Ông tự đặt nhiệm vụ cho mình là phải sống để cùng anh em chiến đấu cho đến ngày đất nước toàn thắng, thực hiện đúng mục tiêu và lí tưởng của Đảng

Sau lần vượt ngục thứ nhất ông còn tổ chức vượt ngục lần thứ hai nhưng cũng không thành, ông tiếp tục bị tra tấn rút 10 ngón tay, hai ngón chân cái; vẫn chưa khuất phục, ông vượt ngục lần thứ ba, lần này ông đã thoát ra khỏi trại giam, bảy ngày lạc trong rừng ông ăn sống thịt trăn và cây cỏ để sinh tồn. Cuối cùng thì ông cũng bị bắt lại. Tên thiếu tá Thọ nghe ông kể lại quá trình vượt ngục và sinh sống hắn ta rùng mình và có vẻ nể phục. Thiếu tá Thọ nói: “Ông đúng là ông trời con! Người ta thường nói nhất quá tam, ông đã vượt ngục bốn lần, lính bắn ông không chết, còn đồng đội ông chết hết. Ông không sợ chết, vậy thì tôi sợ ông thật, tôi xá ông luôn!”

Nhiều lần vượt ngục bị bắt, bị tra tấn và chứng kiến cảnh tra tấn dã man thời Trung cổ (bỏ người tù vào bao bố, buộc lại rồi ném vào chảo nước sôi, luộc đến chết; buộc chặt người tù vào tấm tôn rồi đốt lửa dưới tấm tôn nướng cho đến khi tắt thở; đào lỗ chôn sống người tù; nướng đỏ cây sắt, đâm xuyên bắp thịt,..) ông vô cùng căm phẫn. Những trò tra tấn tàn ác dã man của chúng chẳng những không thị uy, không răn đe được ông mà ngược lại càng nung nấu ý chí nghị lực chiến đấu và quyết tâm trả thù trong ông. Ông luôn tâm niệm dù gian khổ hi sinh vẫn một lòng giữ vững khí tiết của người chiến sĩ. Hình ảnh ông là niềm tự hào kiêu hãnh của những thế hệ đã sống và chiến đấu hết mình vì lí tưởng, vì quê hương đất nước.

Tìm hiểu về cuộc đời ông ta như được trở về với lịch sử dân tộc và cảm thấy sung sướng tự hào hơn bao giờ hết. Tự hào là con người Việt Nam, mang dòng máu Việt Nam. Mãi mãi, và mãi mãi lịch sử Việt Nam, những người con ưu tú của quê hương đất nước Việt Nam sẽ trường tồn bất tử mặc cho dòng chảy của thời gian có cuốn trôi đi tất cả.

(Viết theo Hồi ức ông Đoàn Thanh Phương)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn