Đoàn Thị Nghiệp
Má Tám Nghiệp SN 1925 và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Hội Cự, huyện Cái Bè, tỉnh
Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) quê hương giàu truyền thống yêu nước. Ông nội của má là nghĩa quân của
thủ lĩnh Đoàn Trưng (Đoàn Túc Trưng) đã nổi dậy chống vua Tự Đức xây “Vạn niên thành” xảy ra ngày
10/9/1866 tại kinh đô Huế.
Cuộc binh biến đời sau loạn “Chày vôi” tại kinh đô Huế nhanh chóng bị dập tắt và tàn sát đẫm máu. Do
đó, người ông mang dòng máu họ Đoàn phải chạy loạn vào ẩn cư tận Đồng Tháp Mười. Người cha của
má Tám Nghiệp cũng không cam chịu nô lệ đã theo Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Thủ Khoa
Huân mài gươm chống Pháp.
Ngày 23/9/1945, Nam Bộ kháng chiến. Thừa hưởng khí tiết bất khuất của ông, cha, ngoài 20 tuổi, má
Tám Nghiệp theo hai người anh Đoàn Văn Lệ, Đoàn Hữu Huynh gia nhập vào đội quân kháng chiến với
“nóp với giáo, tầm vông vạt nhọn” đánh giặc khí thế ngất trời.
Tháng 12/1945, một binh đoàn thuộc địa lính lê dương mang bí danh số 3 đánh chiếm huyện Cái Bè, khí
thế rất hung hăng dữ tợn. Lúc này, má Tám Nghiệp làm Bí thư xã Đoàn thanh niên cứu quốc, được
Huyện phân công phối hợp với Chi đội 17 Mỹ Tho cản bước tiến của giặc trên Quốc lộ 4.
Giữa trận chiến đánh quân thù không ai ngờ chính là cuộc định ước của duyên số. Nòng súng thép lại có
hoa hồng tình yêu. Trong đợt chuẩn bị tác chiến chống càn anh chiến sĩ vệ quốc đoàn Bùi Văn Thô được
giao nhiệm vụ huấn luyện cho đoàn thanh niên cách sử dụng súng “mút-cô-tông” một chiến lợi phẩm
thu được của địch rất lợi hại lúc bấy giờ và cách gài mìn, ném lựu đạn…
Cô Bí thư xã đoàn Tám Nghiệp tròn xoe hai mắt cầm súng ngắm nghía và tim đập thình thịch mỗi lần
“cán bộ” cầm tay tận tình hướng dẫn bắn súng. Còn anh bộ đội nhút nhát, hiền như cái tên Thô của anh
lúng túng, vụng về khi gặp ánh mắt sắc sảo của cô Bí thư xã đoàn nhìn như hớp hồn.



