Anh hùng Lực lượng vũ trang

[Đoàn trường THPT Hai Bà Trưng] ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP: THIÊN TÀI QUÂN SỰ VÀ BIỂU TƯỢNG HUYỀN THOẠI CỦA THẾ KỶ XX

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP: THIÊN TÀI QUÂN SỰ VÀ BIỂU TƯỢNG HUYỀN THOẠI CỦA THẾ KỶ XX

Đắk Lắk17/06/2026Phan Thanh Thúy Phi và Tập thể lớp 12A1 (Đoàn trường THPT Hai Bà Trưng, phường Buôn Hồ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
[Đoàn trường THPT Hai Bà Trưng] ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP: THIÊN TÀI QUÂN SỰ VÀ BIỂU TƯỢNG HUYỀN THOẠI CỦA THẾ KỶ XX

Trong dòng chảy lịch sử quân sự thế giới, hiếm có một vị tướng nào chỉ bằng những đội quân chân đất lại lần lượt đánh bại hai cường quốc quân sự hàng đầu thế giới trong thế kỷ XX. Người tạo nên điều kỳ diệu ấy là Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hơn 80 năm cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng, vị tướng huyền thoại không chỉ là niềm tự hào dân tộc mà còn trở thành một biểu tượng bất tử, được bạn bè quốc tế kính trọng và ngưỡng mộ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (tên khai sinh là Võ Giáp, bí danh Văn) sinh ngày 25-8-1911 tại vùng đất giàu truyền thống yêu nước – làng An Xá, nay thuộc xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho, dòng máu yêu nước và chí khí quật cường sớm được nhen nhóm trong ông ngay từ thuở thiếu thời.

Giai đoạn 1925–1926, khi còn là học sinh Trường Quốc học Huế, ông đã tích cực tham gia các phong trào yêu nước, bắt đầu tiếp thu những tư tưởng cách mạng tiên tiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Năm 1927, ông gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng và đến năm 1929, ông cùng các đồng chí cốt cán cải tổ tổ chức này thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn – một trong ba tổ chức tiền thân hợp nhất nên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khát vọng giải phóng dân tộc của ông càng thêm định hình khi được tiếp cận sâu sắc với chủ nghĩa Mác - Lênin thông qua các tác phẩm kinh điển và cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp.

Từ năm 1934 đến 1940, dưới danh nghĩa một thầy giáo dạy lịch sử tại Trường Trung học tư thục Thăng Long (Hà Nội), ông vừa truyền lửa yêu nước cho thế hệ trẻ, vừa tiếp tục hoàn thành chương trình đại học ngành luật và kinh tế. Thời gian này, ông đồng sáng lập và viết bài cho nhiều tờ báo cách mạng của Đảng như Lao động, Tiếng nói chúng ta, Tiến lên, Thời báo Cờ Giải phóng, đồng thời được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương Đại hội (1936).

Bước ngoặt lớn đến vào năm 1941 khi ông được giao trọng trách phụ trách Ủy ban Quân sự của Tổng bộ Việt Minh, trực tiếp tham gia xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao - Bắc - Lạng. Tháng 12-1944, lịch sử quân sự Việt Nam sang trang khi lãnh tụ Hồ Chí Minh tin tưởng giao cho ông nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), người chiến sĩ trẻ Võ Nguyên Giáp đã trang trọng đọc Chỉ thị thành lập đội quân chủ lực đầu tiên gồm 34 cán bộ, chiến sĩ. Ngay sau đó, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, hai chiến thắng Phai Khắt và Nà Ngần (25 và 26-12-1944) đã nổ ra, kiến tạo nên truyền thống “đánh thắng trận đầu, tiêu diệt gọn” lưu danh muôn đời.

Sau những đóng góp then chốt vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được Đảng và Nhà nước giao phó nhiều chức vụ trọng yếu trong Chính phủ lâm thời và Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Ngày 30-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức ủy quyền cho ông làm Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam (sau này là Tổng Tư lệnh kiêm Tổng Chính ủy, Bí thư Tổng Quân ủy). Năm 1948, ở tuổi 37, ông được Chủ tịch nước phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến tháng 2-1951, ông được bầu vào Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1945–1954), Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chỉ huy hàng loạt chiến dịch lớn: từ Việt Bắc (1947), Biên Giới (1950), Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung (1951), Hòa Bình (1951-1952), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953) cho đến đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).

Tên tuổi của ông gắn liền với những quyết sách nghệ thuật quân sự độc đáo, đầy sáng tạo. Ông là người đề xuất giải pháp xé lẻ lực lượng thành các "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung", sáng lập các đại đoàn chủ lực mạnh, chuyển hướng tiến công sang những địa bàn chiến lược hiểm trở mà địch sơ hở. Đặc biệt, trong trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ, quyết định lịch sử chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” của Đại tướng đã xoay chuyển hoàn toàn cục diện, đập tan tập đoàn cứ điểm "bất khả xâm phạm" của thực dân Pháp, buộc họ phải ký kết Hiệp định Geneva.

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954–1975), đối đầu với một siêu cường có tiềm lực kinh tế và quân sự khổng lồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp một lần nữa thể hiện tư duy quân sự kiệt xuất. Trước những lời khuyên từ bỏ ý định đối đầu trực diện từ bạn bè quốc tế, ông kiên định khẳng định: Việt Nam sẽ thất bại nếu đánh theo kiểu chính quy của các nước lớn, nhưng người Việt Nam sẽ giành chiến thắng bằng cách đánh kiểu Việt Nam.

Dưới sự chỉ đạo mang tầm chiến lược của ông cùng Bộ Chính trị, quân và dân ta đã lần lượt bẻ gãy các chiến lược chiến tranh tân tiến nhất của Lầu Năm Góc ở miền Nam và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ở miền Bắc. Điểm nhấn chói lọi nhất chính là bức điện mật ngày 7-4-1975 gửi toàn quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa…”. Mệnh lệnh lịch sử ấy đã thúc đẩy các cánh quân tiến về Sài Gòn, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, thu non sông về một mối.

Không chỉ dừng lại ở vai trò một nhà cầm quân, sau khi rời các cương vị lãnh đạo quản lý, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn bền bỉ cống hiến cho đến những năm đầu thế kỷ XXI. Ông tiếp tục là người cố vấn, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, tầm vóc với Đảng và Nhà nước về các vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trọng đại của quốc gia. Ông đảm nhiệm vị trí Chủ tịch danh dự của nhiều tổ chức uy tín như Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam và Hội Cựu giáo chức Việt Nam.

Với những cống hiến vô song cho dân tộc, Đại tướng đã được Đảng, Nhà nước trao tặng những phần thưởng cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng (1992), hai Huân chương Hồ Chí Minh (ông là người đầu tiên được vinh danh vào năm 1950 và lần hai năm 1979), cùng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng (2010).

Ngày 4-10-2013 (nhằm ngày 30-8 năm Quý Tỵ), "người Anh cả" văn võ song toàn, đức tài trọn vẹn của Quân đội nhân dân Việt Nam đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 102. Lễ Quốc tang tiễn đưa ông về đất mẹ Vũng Chùa - Đảo Yến (Quảng Bình) đã trở thành một biểu tượng cho sự đồng lòng, kính yêu tuyệt đối của hàng triệu con tim Việt Nam đối với vị Đại tướng của nhân dân.

Hội tụ đầy đủ tư duy chiến lược tầm vĩ mô, nghệ thuật chỉ huy chiến dịch sắc bén và sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quân sự với chính trị, ngoại giao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi danh vào lịch sử nhân loại như một trong những danh tướng kiệt xuất nhất trong suốt 25 thế kỷ qua, một thiên tài quân sự toàn năng của thế kỷ XX. Di sản và nhân cách của ông mãi là ngọn đuốc sáng soi đường cho các thế hệ mai sau bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Video / Phóng sự

Nguồn tham khảoXem video gốc tại: https://www.youtube.com/watch?v=gItBQhQmN3k
Bài viết do Ban Biên tập Đề án tổng hợp, biên soạn từ nguồn công khai, phục vụ mục đích giáo dục — tri ân phi lợi nhuận.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn