[Đoàn trường THPT Hai Bà Trưng] Khởi nghĩa N’Trang Guh: Bản hùng ca bất khuất của đồng bào M’nông bên dòng Krông Nô
Khởi nghĩa N’Trang Guh: Bản hùng ca bất khuất của đồng bào M’nông bên dòng Krông Nô
Trong những trang sử vàng chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, cuộc khởi nghĩa N’Trang Guh (1900 - 1914) đứng riêng một cõi như một biểu tượng của tinh thần tự do và ý chí quật khởi. Dưới sự lãnh đạo của người tù trưởng mưu lược N’Trang Guh, nghĩa quân M’nông Gar và các bộ tộc Nam Tây Nguyên đã viết nên một chương sử oanh liệt, đập tan nhiều cuộc hành quân càn quét của thực dân Pháp, giữ vững vùng đất đại ngàn thiêng liêng.
Cuối thế kỷ XIX, sau khi áp đặt bộ máy bảo hộ lên triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp bắt đầu tiến quân bình định vùng đất cao nguyên bao la, trù phú. Tại vùng đất ven dòng sông Krông Nô (thuộc địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng ngày nay), thực dân Pháp tiến hành lập đồn bốt, ráo riết cướp bóc đất đai, bắt xâu, thu thuế, đẩy đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vào cảnh lầm than, tủi nhục.
Không chịu cúi đầu làm nô lệ, N’Trang Guh – một tù trưởng có uy tín lớn của người M’nông Gar – đã đứng lên hiệu triệu buôn làng. Với tài chiêu mộ và uy tín của mình, ông đã nhanh chóng tập hợp được lực lượng nghĩa quân đông đảo bao gồm người M’nông, người Êđê, người Ma... lập căn cứ tại vùng núi hiểm trở dọc sông Krông Nô để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu dài hơi.
Từ năm 1900, cuộc khởi nghĩa chính thức bùng nổ. Hiểu rõ thế mạnh của mình và sự vượt trội về hỏa lực của đối phương, thủ lĩnh N’Trang Guh đã thi triển lối đánh du kích dựa vào địa hình rừng núi một cách tài tình. Nghĩa quân tự chế tạo vũ khí bằng tre nứa, rèn dao kiếm, làm bẫy đá, hầm chông và những mũi tên tẩm độc có sức sát thương cực lớn.
Suốt nhiều năm liền, nghĩa quân N’Trang Guh đã tổ chức hàng chục trận phục kích, bẻ gãy các mũi tiến công càn quét của thực dân Pháp vào vùng căn cứ. Đỉnh cao của cuộc khởi nghĩa là trận tấn công tiêu diệt đồn Buôn Tuor vào tháng 5/1914. Bằng sự mưu trí, dũng cảm và yếu tố bất ngờ, nghĩa quân đã thọc sâu, phá hủy hoàn toàn cứ điểm quân sự sừng sỏ này, tiêu diệt tên đồn trưởng khét tiếng cùng nhiều binh lính Pháp, thu giữ toàn bộ vũ khí. Chiến thắng vang dội này đã làm chấn động cả cao nguyên, buộc thực dân Pháp phải nhìn nhận phong trào bằng một con mắt khiếp sợ.
Trước sự lớn mạnh của nghĩa quân, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng quân đội quy mô lớn từ nhiều hướng, phối hợp với vũ khí hiện đại và các thủ đoạn bao vây kinh tế, đốt phá buôn làng hòng cô lập phong trào.
Trong một trận chiến không cân sức vào cuối năm 1914, do lực lượng quá chênh lệch và bị phản bội, thủ lĩnh N’Trang Guh đã anh dũng hy sinh. Cuộc khởi nghĩa dẫu bị đàn áp và dần lắng xuống, nhưng ngọn lửa tự do mà N’Trang Guh thắp lên không bao giờ tắt. Nó đã tạo tiền đề và tiếp thêm sức mạnh cho cuộc khởi nghĩa quy mô lớn hơn của phong trào N’Trang Lơng (1912 - 1935) sau này.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, hình tượng người tù trưởng N’Trang Guh dũng mãnh, lẫm liệt bên dòng Krông Nô vẫn sống mãi trong những bài khan, bài sử thi của đồng bào Tây Nguyên. Tên tuổi và sự nghiệp của ông không chỉ là niềm tự hào của đất và người đất đỏ, mà còn là minh chứng sống động cho tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập kiên cường của khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam.


