Đoàn Văn Cương
Ông Đoàn Văn Cương, quê Cao Lãnh, là nhân vật nội tuyến đặc biệt của cách mạng trong chính quyền Sài Gòn. Từng giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Phong (1963–1967) và nghị sĩ Hạ nghị viện, ông bí mật hỗ trợ cách mạng bằng cách cung cấp thông tin, hạn chế đàn áp và làm thất bại nhiều kế hoạch bình định của địch. Sau năm 1975, ông trở về quê sinh sống và qua đời tại Pháp.
Ông Đoàn Văn Cương quê nội ở làng Mỹ Ngãi, quê ngoại ở làng Phong Mỹ, tổng Phong Thạnh, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, gia đình thuộc lớp nghèo, đi làm công tiệm chụp hình, tiệm tạp hoá, học vấn sơ học Pháp, dạy học trường tháng (trường tư tại nhà).
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông làm Tài chính xã, bị mất tiền quỹ lúc quân Pháp càn quét. Vừa bị tình nghi vừa sợ nên ông bỏ việc chạy qua vùng Chợ Mới, theo giáo phái Hòa Hảo. Dưới thời Ngô Đình Diệm, ông được phong Thiếu tá rồi trung tá, làm Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Phong từ ngày 25/11/1963 đến ngày 18/8/1967.
Ông được Ban Binh vận tỉnh Kiến Phong vận động, thuyết phục làm nội tuyến (bí mật) cho cách mạng. Kể từ đó, ông đã làm được một số việc:
Không cho quân lính đóng đồn lấn chiếm từ Thống Linh lên vàm xáng Phong Mỹ và cho rút hai đồn: ngã tư Phong Mỹ và đồn Cái Bứa. Nhờ đó, từ tháng 8/1964, vùng giải phóng Tây - Bắc Cao Lãnh được mở rộng.
Năm 1964, ông Lê Văn Cường (Tám Ánh) cán bộ Tuyên huấn tỉnh Kiến Phong bị địch bắt, yêu cầu giải lên "trung ương". Được ta tranh thủ, ông tìm cách giữ ông Tám Ánh ở tỉnh và thả tự do cho ông.
Cũng trong năm 1964, ông "tương kế tựu kế" thải loại Trưởng Ban ấp chiến lược quận Cao Lãnh đang triển khai kế hoạch bình định lập ấp chiến lược trong quận.
Các cuộc đấu tranh chính trị trực diện vô thị xã Cao Lãnh, ông giải quyết yêu sách cho quần chúng, hạn chế đàn áp.
Tháng 5/1965, máy bay Mỹ ném bom vùng giải phóng xã Phong Mỹ, hư sập hơn 20 căn nhà. Ông chấp nhận yêu cầu đấu tranh, bồi thường tất cả những gia đình bị thiệt hại (khoảng nửa triệu đồng, là món tiền khá lớn lúc này).
Tháng 6/1965, ông Tư Muôn cán bộ Binh vận xã Phong Mỹ bị lính ở căn cứ quân sự Trần Quốc Toản bắt tra tấn tàn nhẫn. Nhận được yêu cầu của ta, ông ra lệnh giải về tỉnh và 3 ngày sau tạo điều kiện thả Tư Muôn.
Cuối năm 1965, Bộ Tư lệnh Vùng IV Chiến thuật ra lệnh cho ông gấp rút đóng lại đồn bót tuyến kinh Nguyễn Văn Tiếp, kỳ hạn tháng 5/1966 cho xong. Ông báo cáo và xin ý kiến (qua mật giao), ta bố trí lực lượng đánh phủ đầu bọn đi đóng đồn. Ông cho quân lính đi đúng hợp đồng, ta đánh thiệt hại nặng, bẻ gãy ý đồ đóng bót; nhờ đó, ông có cớ trì hoãn lệnh đóng đồn.
Giữa năm 1966, ông báo với ta âm mưu làm lại lộ 30 từ Giáo Đức (Cái Bè) đến Cao Lãnh - Hồng Ngự, đóng đồn lấn chiếm kênh Nguyễn Văn Tiếp B, làm lộ từ Giáo Đức vô Mỹ An... để bình định Đồng Tháp Mười. Tỉnh uỷ Kiến Phong chỉ đạo tranh thủ Đoàn Văn Cương thi hành cầm chừng, kéo dài tới mùa nước nổi sẽ ngưng không làm được.
Ông thường xuyên báo cáo, cung cấp cho ta nhiều thông tin quan trọng của Vùng IV Chiến thuật, Sài Gòn... để ta chủ động đối phó, đề phòng.
Tháng 8/1967, ta tập kích khu vực hậu cần địch tại nội ô thị xã Cao Lãnh. Ta vận động Đoàn Văn Cương hạn chế đưa lực lượng ứng cứu. Khi súng nổ, ông ra lệnh án binh bất động, cúp điện. Kết quả ta tiêu diệt 1 đại đội hành chính và một số lính Sư đoàn 9, phá huỷ nhiều vũ khí quân trang, quân dụng. Sau trận này ông bị cách chức Tỉnh trưởng.
Ông về Sài Gòn, cuối năm 1967 ra ứng cử và đắc cử Hạ nghị viện. Ông vẫn tiếp tục cung cấp tin tức cho cách mạng.
Đến năm 1971, mãn nhiệm kỳ Hạ nghị viện, ông không làm việc cho chế độ cũ nữa. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, được Ban Binh vận tỉnh và Ban Binh vận R xin miễn giảm thời gian quản huấn, ông trở về quê làm ăn sinh sống, sau đó ông sang Pháp và qua đời bên đó.



