Đoàn xã Pu Sam Cáp (540)
Phạm Tuân (sinh ngày 14 tháng 2 năm 1947 tại Thái Bình) là một phi công, phi hành gia người Việt Nam, Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng Không quân. Ông là người Việt Nam và châu Á đầu tiên bay lên vũ trụ[3] vào năm 1980 trong chương trình Interkosmos của Liên Xô.[4][5][6] Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng 3 lần, bởi 2 Quốc gia khác nhau: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lao động, Anh hùng Liên Xô.[1][2] Trong Quân đội,
Phạm Tuân sinh ngày 14 tháng 2 năm 1947 tại xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là xã Trà Giang, tỉnh Hưng Yên). Ông đi bộ đội, được tuyển vào binh chủng Không quân nhân dân Việt Nam năm 1965, tốt nghiệp Trường phi công quân sự ở Liên Xô năm 1967 và trở thành sĩ quan lái máy bay chiến đấu của Trung đoàn 921 Sao Đỏ, tham gia chiến đấu bảo vệ vùng trời miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Ông là Đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam trong năm này và chính thức là vào năm 1968. Giữa năm 1972, ông là 1 trong 12 phi công được chọn để đào tạo lái tiêm kích bay đêm, chuẩn bị cho việc bắn hạ máy bay B-52 (tiêm kích bay đêm yêu cầu kỹ thuật cao hơn nhiều so với lái tiêm kích ban ngày).[7]
Bắn rơi B-52. Bay vào vũ trụ. Trở thành lãnh đạo chỉ huy cao cấp
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1973).
Anh hùng Lao động Việt Nam (1980).
Anh hùng Liên Xô (1980).
Huân chương Lenin (1980).
Huân chương Hồ Chí Minh (1980).
Huân chương Chiến công hạng Nhất.
2 Huân chương Quân công hạng Ba.
Huy hiệu Bác Hồ.
Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Ba.
Huy chương Quân kỳ quyết thắng.
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất.
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì.
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba.
Huân chương Tự do hạng Nhì của CHDCND Lào.
Giải thưởng Pyotr Đại đế.
Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.



