Cựu chiến binh

Đoàn xã tân Phú - Câu chuyện Thời hoa lửa Cựu Chiến binh Nguyễn Thị Hồng Duy

Đồng Nai16/12/2025Hồ Thị Thu Hiền (Xã Tân Phú)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong vô vàn câu chuyện về thời chiến tranh khóc liệt, chúng đã trở nên quen thuộc với những hình ảnh người lính cầm súng bước ra chiến trường, những sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ đã ngã xuống vì nền Độc Lập Dân Tộc, những chiến thắng vẻ vang của dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến những cống hiến của những người chiến sĩ khoác lên mình chiếc áo blouse trắng..

Những ngày tháng 12, khi cả nước đang hướng về ngày kỷ niệm 81 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2025). Tôi ghé qua căn nhà nhỏ của bà Nguyễn Thị Hồng Duy, nguyên là y tá Quân Y trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Căn nhà tình nghĩa thể hiện sự tri ân sâu sắc trước những hy sinh, cống hiến của bà Nguyễn Thị Hồng Duy trong quá trình tham gia kháng chiến, giành độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dịp đến thăm bà đều được nghe bà kể chuyện về một thời chiến tranh khóc liệt. Bà Nguyễn Thị Hồng Duy, sinh năm 1957, tham gia cách mạng năm 1970, hiện là Hội cựu Chiến Binh, ấp Tân Phú 9, xã Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Là một y tá quân nhân trong Quân Đội, bà đi ra chiến trường cùng các đồng chí K8, K9 huyện Xuân Lộc Và Định Quán cũ, bà cùng với đồng đội luôn cố gắng điều trị tại chỗ và phối hợp với tổ nuôi quân để giữ vững sức khỏe bộ đội góp phần gìn giữ sức chiến đấu của đơn vị bởi vì lúc này nuôi quân mà không tốt, bộ đội yếu mà không giữ lại để điều trị tại chỗ thì không thể bổ sung được quân số chiến đấu của đơn vị.

Trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn về thuốc men, phương tiện cứu chữa, bà cùng đồng đội luôn có những sáng kiến trong điều trị vết thương, như lấy lá trầu không dã ra rồi nhúng vào cồn bôi lên để điều trị ghẻ và hắc lào, hay uống B1 để phòng bệnh tê phù do thiếu ăn gây ra.

Nơi điều trị cũng là chiến trường, máy bay Mỹ bay lượn trên bầu trời suốt ngày đêm, pháo, đại bác, bom đạn rền vang khắp nơi. Do vậy, những y tá, bác sĩ cũng là những người lính chiến đấu. Bà Duy cũng là một trong những số đó, không ai phân biệt công việc của ai, ngoài việc chăm lo ăn uống, ngủ nghỉ, sức khỏe cho đồng đội, bà còn lên trận địa. Những lúc làm nhiệm vụ bang bó vết thương cho các chiến sĩ bà vừa làm vừa hướng dẫn cho các chiến sĩ về cách sơ cứu, do vậy với nhiwxng vết thương đơn giản thì các chiến sĩ vẫn có thể làm được. Mỗi chiến sĩ, trong người lúc nào cũng đều có túi bông băng, thuốc sát trùng, gây tê, do vậy mặc dù không phải quân y nhưng những vết thương đơn giản thì các chiến sĩ đều có thể sơ cứu được.

Chiến sỹ ta bị thương rất nhiều, trong khi lực lượng làm công tác cứu thương mỏng nên không kịp sơ cứu ban đầu. Trong chiến tranh, thiếu thuốc gây tê, gây mê thế nhưng dù bị thương, đau đớn thế nào thì những chiến binh vẫn cắn rang chịu đựng, mỗi lần như thế bà lại thấy thương, tim thắt lại, nước mắt lại rơi vì những sự hy sinh ấy. Có hôm đưa các chiến sỹ ngoài chiến trường về có 2 anh chiến sỹ, mỗi anh phải có hơn 30 vết thương, chúng tôi băng bó cho các anh đấy, 4-5 ngày sau, những vết thương không được băng bị mưng mủ, đau đớn kể sao cho hết. Bà Duy còn ví vui rằng vết muỗi đốt trên người còn nhiều hơn cả những nốt trẻ con lên sởi. Thiếu cơm, chỉ có lương khô để ăn…Nhưng tất cả những điều đó không làm nản lòng các chiến sĩ quả cảm.

Có những lúc, trong ký ức của bà Duy lúc nào cũng nhớ đến bạn bè và đồng đội, có những người đã hy sinh khi tuổi đời còn quá trẻ, có những đồng đội may mắn sống sót lại mất đi một phần của cơ thể. Khi nhớ lại những con người và ký ức ấy bà không thể nào cầm nổi nước mắt. Có những đồng đội sau hòa bình được phục viên, theo chính sách nhà nước mấy chục năm mới vào nam để tìm lại đồng đội ngày xưa, ôn lại kỷ niệm. Có những đồng chí không cầm được nước mắt khi cùng đồng đội thăm lại căn cứ ngày xưa mình đã từng đóng quân, cùng các đồng đội và họp lại để ra chiến trường đánh giặc. Khi đi thì thật hào hung, cùng nhau cất thật to bài ca: “Bác cùng chúng cháu hành quân” thật là rạng ngời và vui vẻ, khi trở về thì khóc không thành lời, vì các đồng đội đã hy sinh quá nhiều.

Kể sao cho hết gian đoạn khổ cực và gian nan ấy, nếu bà kể hết thì chẳng có bút mữ nào mà tã nổi. Chiến trường khốc liệt nhưng can trường.. Và rồi bà gửi tặng tôi một bài thơ bà luôn khắc ghi:

Bài thơ: “Tiếng hát giữa rừng”, tác giả: Huỳnh Văn Nghệ”:

Ngựa bỗng dừng chân bên quân y viện:

Giật mình nghe tiếng Quốc ca vang.

Phải chăng giờ chào cờ buổi sáng hay hội nghị cơ quan?

Sao chỉ một người cất giọng hát đi, rồi hát lại nhiều lần.

Xuống ngựa, buộc cương hỏi ra mới biết:

Bác sĩ đang cưa chân một chiến sĩ bị thương bằng cưa thợ mộc...

Bác sĩ vừa cưa vừa khóc, chị cứu thương mắt cũng đỏ hoe

Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre, anh chiến sĩ cứ mê mải hát.

Cưa cứ cưa, xương cứ đứt, máu cứ rơi từng vết đỏ bông.

Hai bàn tay siết chặt đôi hông, dồn hết phổi vào trong tiếng hát:

“Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc...”

Đã hát đi hát lại bao lần, vẫn chưa đứt xương chân

Vẫn chưa ngừng máu đỏ, vừa xong băng bó, anh lịm đi

Hồi hộp cả núi rừng, tiếng hát mới chịu ngưng.

Ảnh Bác Hồ như rưng rưng nước mắt, trở lên yên ngựa đi từng bước

Cúi đầu nén nỗi đau thương, nhưng lửa căm hờn

Bỗng dựng cao đầu ngựa dậy, vang trời ngựa hí

Chí phục thù cháy bỏng tay cương.

Cuộc chiến đã đi qua nhưng những gì nó để lại vẫn còn đó trong tâm thức người chiến sỹ quân y. Nhưng với bà Nguyễn Thị Hồng Duy, bà vẫn còn may mắn được trở về, được sống trong hòa bình, hằng năm cứ tới dịp ngày 22/12 bà lại được gặp gỡ, họp mặt cùng những đồng đội tri kỷ của mình. Cả một đời khói lửa, chỉ mong mỏi một ước mơ vỏn vẹn trong 2 chữ “HÒA BÌNH”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn