ĐỐC BINH KIỀU – NGƯỜI ANH HÙNG SỐNG MÃI VỚI ĐẤT VÀ NGƯỜI NAM BỘ
Đốc Binh Kiều, người anh hùng gắn liền với vùng đất Gò Tháp - Đồng Tháp Mười, và tinh thần yêu nước nồng nàn, bất khuất của con người Việt Nam vào những giai đoạn khó khăn nhất trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.

Là một cựu học sinh của mái trường mang tên Đốc Binh Kiều, trong tôi, tên gọi “Đốc Binh Kiều” không đơn thuần là tên của một người anh hùng trong lịch sử. Đó còn là một phần ký ức tuổi học trò, là niềm tự hào về quê hương và là lời nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm đối với đất nước. Vào thời đó, ở miền Nam, có một vùng đất mênh mông sông nước, lau sậy, bưng biền và những người nghĩa sĩ áo vải đã đứng lên chống giặc trong những năm tháng đất nước chịu cảnh ngoại xâm. Chính từ vùng đất ấy, Đốc Binh Kiều cùng Thiên hộ Võ Duy Dương đã viết nên một trang sử hào hùng của Nam Bộ bằng lòng yêu nước, ý chí bất khuất và sự hy sinh vì non sông gắn liền với địa danh vùng đất ấy – Đồng Tháp Mười.
Sau khi thực dân Pháp từng bước mở rộng xâm lược Nam Kỳ, cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ diễn ra ngày càng quyết liệt. Sau Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862, triều đình nhà Nguyễn nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, nhưng tinh thần chống ngoại xâm của nhân dân không vì thế mà chấm dứt. Nhiều nghĩa sĩ vẫn tiếp tục chiến đấu, bởi đối với họ, quê hương không thể dễ dàng bị khuất phục và non sông không thể bị xem như một món đồ để trao đổi. Trong phong trào ấy, Nguyễn Tấn Kiều – thường được nhân dân gọi là Đốc Binh Kiều – trở thành một trong những vị tướng lĩnh tiêu biểu của nghĩa quân Đồng Tháp Mười. Hiện vẫn chưa xác định được chính xác năm sinh và quê quán của ông; ông là Phó tướng của Thiên hộ Võ Duy Dương.
Cùng với Thiên hộ Võ Duy Dương, Đốc Binh Kiều đã chọn vùng Đồng Tháp Mười, đặc biệt là khu vực Gò Tháp, làm căn cứ kháng chiến. Đây là một lựa chọn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về địa hình và nghệ thuật tổ chức chiến đấu. Đồng Tháp Mười khi ấy là vùng đất rộng lớn, sình lầy, lau sậy um tùm, kênh rạch chằng chịt, giao thông vô cùng khó khăn. Đối với quân Pháp, đây là một địa bàn hiểm trở; nhưng đối với những người con Nam Bộ thông thuộc từng dòng nước, từng con rạch, từng bưng biền, nơi đây lại trở thành một pháo đài tự nhiên. Tận dụng địa hình ấy, nghĩa quân xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng và tiến hành những trận đánh linh hoạt, khiến quân Pháp nhiều phen tổn thất.
Gò Tháp dần trở thành đại bản doanh của nghĩa quân Thiên hộ Võ Duy Dương và Đốc Binh Kiều. Lực lượng nơi đây không chỉ gồm những người trực tiếp cầm vũ khí. Nhiều tầng lớp nhân dân cùng tham gia, từ nông dân, điền chủ, nho sĩ cho đến những người thuộc các cộng đồng khác nhau. Theo nhiều nguồn tư liệu, nghĩa quân tại Gò Tháp có hệ thống đồn chính và đồn phụ, lực lượng đông đảo; khi bình thường, nhiều người trở về sản xuất, tích lũy lương thực, luyện tập võ nghệ, khi có giặc thì được điều động chiến đấu.
Điều đó cho thấy một chân lý lớn của lịch sử dân tộc: sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trước hết bắt nguồn từ lòng dân. Nghĩa quân có thể chiến đấu trong bưng biền, có thể dựa vào địa hình hiểm trở, nhưng phía sau họ luôn là sự che chở, nuôi dưỡng và ủng hộ của nhân dân. Chính nhân dân đã góp lương thực, thông tin, phương tiện và sức người cho cuộc kháng chiến. Bởi vậy, cuộc chiến đấu ở Đồng Tháp Mười không chỉ là cuộc chiến của một đội quân, mà là cuộc chiến của cả một cộng đồng cùng chung khát vọng bảo vệ quê hương.
Đốc Binh Kiều cùng nghĩa quân đã vận dụng lối đánh phù hợp với điều kiện thực tế. Từ căn cứ Gò Tháp, nghĩa quân tổ chức những cuộc tập kích vào các đồn của quân Pháp ở khu vực Cái Bè, Cai Lậy, Mỹ Quý và nhiều địa bàn khác. Những cuộc tập kích đã gây cho quân Pháp nhiều tổn thất và tạo tiếng vang lớn trong nhân dân. Một trong những trận đánh nổi bật là cuộc tập kích đồn Mỹ Trà ngày 22/7/1865, trong đó nghĩa quân đánh bất ngờ, tiêu diệt chỉ huy và nhiều binh lính Pháp, thu được chiến lợi phẩm rồi rút lui an toàn.
Nhưng trước sức mạnh quân sự ngày càng lớn của thực dân Pháp, căn cứ Đồng Tháp Mười cuối cùng phải đối mặt với một cuộc tiến công quy mô lớn. Tháng 4 năm 1866, Thống soái De Lagrandiere huy động lực lượng thủy – lục quân, đại bác và tàu chiến, tổ chức tiến công từ nhiều hướng vào trung tâm kháng chiến. Sau nhiều ngày chiến đấu ác liệt, các đồn chính lần lượt thất thủ. Trong trận chiến tại Đại bản doanh Gò Tháp, Đốc Binh Kiều đã anh dũng hy sinh.
Ông ngã xuống, nhưng tinh thần của ông không mất đi. Một người có thể hy sinh, một căn cứ có thể bị đánh chiếm, nhưng lòng yêu nước thì không thể bị tiêu diệt. Chính sự hy sinh của Đốc Binh Kiều và những nghĩa quân Gò Tháp đã góp phần làm nên truyền thống kiên trung, bất khuất của nhân dân Nam Bộ. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhân dân vẫn nhắc nhớ tên ông như một biểu tượng của khí phách và nghĩa tình.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đối với tôi, một cựu học sinh Trường Đốc Binh Kiều, ý nghĩa ấy càng trở nên sâu sắc. Ngôi trường mang tên ông không chỉ là nơi truyền đạt kiến thức, mà còn là nơi truyền lại một phần ký ức lịch sử của quê hương. Mỗi thế hệ học sinh bước qua cánh cổng trường đều có cơ hội được biết rằng trước khi chúng ta có những lớp học bình yên, những trang sách, những ước mơ và tương lai rộng mở, cha ông đã phải trải qua những năm tháng vô cùng gian khổ để bảo vệ từng tấc đất quê hương.
Ngày nay, chúng ta không còn phải cầm giáo, cầm gươm hay sống giữa chiến trường như Đốc Binh Kiều. Nhưng điều đó không có nghĩa là trách nhiệm với Tổ quốc đã kết thúc. Yêu nước trong thời đại hôm nay là học tập tốt, lao động tốt, sống có trách nhiệm, giữ gìn bản sắc văn hóa, tôn trọng lịch sử và góp sức xây dựng quê hương. Đối với học sinh, lòng yêu nước có thể bắt đầu từ những điều rất giản dị: học tập nghiêm túc, sống tử tế, đoàn kết với bạn bè, kính trọng thầy cô, biết trân trọng những giá trị mà cha ông để lại và có ý thức đóng góp cho cộng đồng.
Đặc biệt, việc giáo dục truyền thống về Đốc Binh Kiều cần được gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Gò Tháp, đền thờ Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều là một kiến trúc mang đậm nét Nam Bộ, truyền thống, uy nghiêm, với nhiều ý nghĩa và giá trị lịch sử, được xây dựng ngay tại đại bản doanh của ông vào thời đó. Để tưởng nhớ công của Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều, hằng năm, Nhân dân trong vùng chọn ngày 14, 15, 16 tháng 11 âm lịch làm lễ giỗ cụ. Mỗi kỳ lễ hội thu hút hàng trăm nghìn du khách gần xa về đây dự. Lễ giỗ của cụ đã trở thành hoạt động truyền thống văn hóa, là lễ hội thường niên tại Khu di tích Gò Tháp. Đền thờ đã được Thủ tướng chính phủ xếp hạng là “Di tích cấp quốc gia đặc biệt” vào ngày 27/9/2012, nhấn mạnh ý nghĩa tri ân công lao của ông và giáo dục truyền thống yêu nước.
Nhìn về Đốc Binh Kiều, tôi càng thêm tự hào về vùng đất Nam Bộ giàu truyền thống yêu nước. Tên ông đã vượt qua giới hạn của một con người và trở thành một biểu tượng. Biểu tượng ấy nhắc chúng ta rằng trong những thời khắc đất nước gian nguy, luôn có những con người sẵn sàng đứng lên, đặt vận mệnh Tổ quốc lên trên lợi ích riêng của mình.
Là một cựu học sinh của mái trường mang tên Đốc Binh Kiều, tôi xin được bày tỏ lòng thành kính và biết ơn sâu sắc đối với ông cùng những nghĩa sĩ đã hy sinh vì quê hương. Tôi càng trân trọng hơn những năm tháng được học tập dưới mái trường mang tên người anh hùng ấy. Bởi mỗi khi gọi tên Đốc Binh Kiều, chúng ta không chỉ gọi tên một nhân vật lịch sử, mà còn gọi về một phần hồn thiêng của quê hương, gọi về lòng yêu nước của cha ông và gọi về trách nhiệm của thế hệ hôm nay.
Đốc Binh Kiều đã nằm lại với đất Gò Tháp, nhưng khí phách của ông vẫn còn sống mãi. Sống trong những trang sử, trong lòng nhân dân, trong tên trường, tên đường và trong ký ức của bao thế hệ học sinh. Và với tôi, đó cũng là một lời nhắc nhở thiêng liêng: hãy biết trân trọng hòa bình, biết tự hào về dân tộc, biết yêu quê hương và sống một cuộc đời có ích. Đó chính là cách thiết thực nhất để thế hệ hôm nay tri ân những người đã hy sinh và để ngọn lửa yêu nước mà Đốc Binh Kiều cùng các bậc tiền nhân trao lại mãi mãi được truyền tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tác giả: Phan Gia Thịnh, Đoàn BV đa khoa khu vực Cai Lậy.



