Dốc Kon Tum – Hùm Gia Lai – Muỗi Đắk Lắk

Dốc Kon Tum – Hùm Gia Lai – Muỗi Đắk Lắk
Ký ức một “Thời Hoa Lửa” của Bác Đào Hồng Hải lại bừng dậy đầy xúc động. Giữa những địa danh đã trở thành dấu ấn của đời lính.
“Dốc Kon Tum – Hùm Gia Lai – Muỗi Đắk Lắk” là cả một tuổi trẻ rực cháy, một thời chiến đấu gian khổ nhưng kiêu hãnh của người lính trinh sát Tây Nguyên. Đó không chỉ là chuyện bom đạn, đói rét, ngã xuống rồi đứng dậy.
Đó là niềm tự hào của một người chiến sĩ kiên trung, trọn đời vì Tổ quốc, vì nhân dân. Mới 18 tuổi, chàng trai trẻ Đào Hồng Hải đã được đứng vào hàng ngũ của Đảng – kết nạp ngày 1/10/1963 – mang trong tim lời thề sắt son, hiến trọn thanh xuân cho đất nước.
Ngày ấy, Tây Nguyên còn hoang vu, rừng dày đặc như một tấm áo choàng xanh thẫm. Giữa không gian mù sương của đất Ea H’leo - Ea Wy suối Đá Bằng, có một người lính trẻ bắt đầu chặng đường chiến đấu của đời mình: Bác Đào Hồng Hải, trinh sát của đơn vị Sư đoàn 1 – sư đoàn mới thành lập từ sư 304, cũng là thời điểm Bộ Tư lệnh B3 ra đời.
Bác thuộc đại đội trinh sát ,âm thầm bám địch để dẫn đường cho trung đoàn bộ binh. Phận trinh sát ngày ấy mong manh như sương sớm, nhưng gan dạ thì như đá núi.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ký ức tháng 6 năm 1966 – trận đánh không bao giờ quên
Sau trận Plei Me vang dội, quân ta đánh xong rồi rút, để lại một bãi đất nơi trực thăng Mỹ từng không vận đổ quân. Người ta gọi nó bằng một cái tên đơn giản mà ám ảnh: bãi trực thăng.
Tháng 6 năm 1966, mưa Tây Nguyên đổ xuống như trút. Rừng dày, cây lớn, nước dội từ lá xuống như những sợi roi bạc quất vào mặt người.
Bác Hải lúc ấy là tiểu đội phó trinh sát , được cử cùng một chiến sĩ nữa bí mật bám trận địa địch. Hai con người bé nhỏ giữa rừng Nhưng đối diện họ… đại ngàn, chỉ có hai khẩu AK, lặng lẽ vượt suối, nằm phục ở bờ bên kia. Không có tăng cường, không có hỏa lực. Chỉ có lòng dũng cảm là cả một trung đội thám báo của địch, đủ hỏa lực, đủ trang bị. Chúng cũng bám vào chính nơi ấy, nơi từng là điểm đổ quân, với mục đích săn tìm lực lượng ta.
“Dốc Kon Tum – Hùm Gia Lai – Muỗi Đắk Lắk.”
Ở vùng Suối Đá Bằng, giáp ranh Gia Lai, chỉ cần nghe tiếng súng nổ là hùm lại xuất hiện. Sau trận Plei Me, hùm kéo đến cả chỗ hai bên quân giải phóng – quân địch, bới đất tìm xác, bước chân chúng in xuống rừng sâu to như cái nia. Chỉ nhìn dấu vết thôi đã thấy gai sống lưng.
Trinh sát như bác Hải phải men theo chính những lối mòn mà hùm từng đi. Rừng tối, lá rậm, gió rừng rít qua tai như tiếng thở của thú dữ. Tối hôm ấy, hai anh em nấu cơm ăn tạm . Ăn xong, ngả lưng vài tiếng, rồi lúc trời vừa sáng đã chuẩn bị ra bám địch. Không ai ngờ, phía bên kia, địch cũng bám, và vậy là hai bên đụng độ , đánh nhau. Cuộc chạm trán diễn ra chớp nhoáng nhưng vô cùng dữ dội.
Tiếng súng nổ xé toạc màn sương sớm. Bác Hải siết chặt khẩu AK, bắn đến nửa băng đạn. Rồi quay lại nhìn thì đồng đội của ông đã mất.
Người chiến sĩ trẻ chạy theo bác lúc ấy hoảng loạn, trượt chân bỏ chạy về phía sau, để lại mình bác đối diện với cả nhóm thám báo địch.
Bác chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tay tê đi vì giật súng, mồ hôi hòa cùng nước mưa thành một thứ vị mằn mặn khó tả. Địch áp sát. Không còn đường thoát, bác nhìn thấy một bụi cây lớn, rậm như cái tổ của rừng, và bác lao thẳng vào đó.Rồi bóng tối ập xuống.Cả rừng Tây Nguyên như im lặng lại.
Bác Hải ngất đi không biết trời đất.
Khi mở mắt ra…Đã là ngày thứ sáu.
Thân thể tím tái vì lạnh, mất sức, lấm đầy đất rừng. Lúc ấy, bác đã được anh em của Sư đoàn tìm thấy. Những chiến sĩ đi tuần rừng nhìn thấy dấu vết, thấy hơi người, thấy thân hình bác nằm dưới khe suối nên đã kéo ông lên.
Sau này, khi bác trở về công tác tại Tiểu đoàn 7 – Trung đoàn 66 (từ năm 1969), anh em ở đó kể lại rằng chính họ đã phát hiện bác nằm gục trong dòng nước, nửa sống nửa chết.
Họ cáng bác về đơn vị, rồi đưa đi điều trị.Ba tháng trời trong bệnh viện dã chiến.
Ba tháng chống chọi giữa sống và chết.
Đó như bác nói , là ký ức sâu sắc nhất đời mình, một vết khắc không bao giờ phai mờ trong tâm trí người lính trinh sát.


