Cựu Thanh niên xung phong

ĐỌC THƠ DƯỚI ÁNH TRĂNG RẰM

Câu chuyện hồi tưởng về những đêm đọc thơ dưới ánh trăng rằm – khi thanh niên xung phong vùng Tây Bắc tụ họp lặng lẽ bên suối, đọc thơ Bác Hồ, thơ kháng chiến và thơ dân gian Thái để động viên nhau, giữ lửa tinh thần giữa bom đạn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1967-1970), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về đời sống văn hóa tinh thần phong phú, tình yêu thơ ca của lực lượng thanh niên xung phong địa phương tại vùng Mường Lay - Lai Châu, với giọng văn chân thực, xúc động, khắc họa sức mạnh

Điện Biên28/01/2026LÒ THỊ PHUONG LINH (Chi đoàn 10A1 THPT TX ML, trường THPT Mường Lay, Đoàn Phường Mường Lay)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi vẫn hay trở về bên suối Na Ka mỗi khi trăng rằm sáng tỏ, ngồi lặng trên bờ đá nghe tiếng nước reo mà lòng chợt dâng trào ký ức về những đêm đọc thơ dưới ánh trăng, nơi tuổi trẻ chúng tôi đã dùng lời thơ để sưởi ấm trái tim giữa khói lửa Tây Bắc. Sinh năm 1945, ở vùng đất Na Lay - Mường Lay ngày ấy, tôi lớn lên giữa những điệu xòe và lời thơ dân gian, nghe tiếng mẹ ngâm thơ và tiếng gọi Tổ quốc từ những buổi họp bản. Năm 1967, khi giặc Mỹ đánh phá hậu phương ngày càng ác liệt, tôi tình nguyện gia nhập Đại đội C177 Thanh niên xung phong ngay tại quê nhà. Lúc đó tôi 22 tuổi, lòng vẫn mang theo những vần thơ Bác Hồ và lời ru quê hương.

Những đêm trăng rằm giữa chiến tranh, khi bom đã ngớt, chúng tôi lặng lẽ tụ họp bên suối, ngồi quây quần dưới ánh trăng bạc. Không dám nhóm lửa lớn sợ lộ vị trí, chỉ thì thầm đọc thơ: thơ Bác “Việt Bắc”, thơ Tố Hữu “Từ ấy”, rồi xen vào những bài thơ dân gian Thái do anh em tự sáng tác giữa bom đạn. Tiếng đọc nhỏ nhẹ, run run vì lạnh và xúc động, hòa với tiếng suối róc rách, át đi tiếng gió núi rít. Tôi nhớ rõ một đêm năm 1968, sau trận bom gần đồi Na Ka, cả đội mệt mỏi, đồng đội hy sinh, chúng tôi ngồi dưới trăng, một chị lớn tuổi đọc to: “Đất nước tôi là những con người…”, rồi cả đội theo, giọng nghẹn ngào. Trăng chiếu xuống suối lấp lánh, như Bác Hồ đang lắng nghe, động viên chúng tôi tiếp tục.

Gió núi lạnh buốt, sương đêm ướt đẫm áo, nhiều anh em sốt rét run người khi đọc thơ, chất độc da cam khiến giọng khản đặc, nhưng chúng tôi vẫn đọc, vẫn ngâm. Chúng tôi chia nhau từng câu thơ, động viên nhau: “Thơ còn vang, tinh thần còn sáng, miền Nam sẽ về”. Những đêm đọc thơ ấy đã giúp chúng tôi giữ vững ý chí, biến nỗi đau mất mát thành sức mạnh để tiếp tục đào hầm, lấp hố bom, vận chuyển hàng cho tiền tuyến.

Đến năm 1970, khi tôi xuất ngũ, mang theo kỷ niệm chương và những vết sẹo chiến tranh, tôi trở về Bản Na Ka, thấy suối vẫn reo, trăng vẫn tròn, nhưng biết bao đồng đội đã ra đi mà không kịp nghe hết bài thơ cuối cùng. Giờ đây, ở tuổi già, ngồi bên suối Na Ka dưới trăng rằm nghe gió thổi qua rừng, tôi kể lại cho con cháu nghe về những đêm đọc thơ ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên vùng cao bình thường, nhưng đã dùng lời thơ để giữ lửa tinh thần, để đền ơn Tổ quốc. Lực lượng Thanh niên xung phong – những bóng hoa lửa thầm lặng dưới ánh trăng rằm Na Ka – mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình hôm nay, noi gương cha anh, để lời thơ quê hương mãi vang, non sông mãi vững vàng, trường tồn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐỌC THƠ DƯỚI ÁNH TRĂNG RẰM | Câu chuyện thời hoa lửa