Người có công giúp đỡ cách mạng

Đôi bàn tay tôi đã gửi vào năm tháng quân ngũ

Lào Cai11/05/2026Tuổi trẻ xã Bảo Thắng (Tuổi trẻ xã Bảo Thắng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày ấy, tôi đã hai mươi bốn tuổi. Không còn quá trẻ để vô tư như những cô gái mười tám, đôi mươi, nhưng cũng chưa đủ già để lòng thôi mơ ước. Tôi cũng như bao người phụ nữ khác, cũng có gia đình để thương, quê hương để nhớ, cũng có những điều riêng tư muốn giữ lại cho mình. Nhưng đất nước khi ấy còn chiến tranh, mà khi Tổ quốc cần thì mỗi người đều phải biết gác lại phần riêng.

Tôi lên đường trong những năm tháng rất ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1972, chiến tranh vẫn còn dữ dội. Tin tức từ chiến trường ngày nào cũng làm lòng người thắt lại. Ở quê, những cuộc tiễn đưa diễn ra lặng lẽ mà nặng tình. Người ra đi cố tỏ ra cứng rắn, người ở lại cố giấu nước mắt. Tôi cũng vậy. Ngày khoác ba lô lên đường, tôi không nói được nhiều. Chỉ nhìn lại mái nhà, nhìn người thân, rồi tự nhủ: mình phải đi cho vững, sống cho xứng đáng.

Là phụ nữ trong quân ngũ, tôi hiểu rất rõ một điều: sức mạnh của mình không phải lúc nào cũng nằm ở những việc thật lớn lao. Có khi nó nằm ở sự bền bỉ. Ở việc biết chịu khó. Ở đôi bàn tay không ngại việc. Ở trái tim biết nén nỗi nhớ nhà để hoàn thành nhiệm vụ.

Tôi nhớ đôi bàn tay của mình những ngày đầu nhập ngũ. Đôi tay ấy vốn quen với việc nhà, việc ruộng, việc đời thường của người phụ nữ quê. Vào quân đội rồi, đôi tay ấy học thêm biết bao việc mới: gấp quân tư trang cho gọn, chỉnh lại bộ quân phục cho ngay ngắn, cầm chắc vật dụng được giao, làm việc theo nề nếp, theo kỷ luật, theo yêu cầu của đơn vị.

Ban đầu không dễ. Môi trường quân đội nghiêm hơn nhiều so với cuộc sống ở nhà. Giờ nào việc ấy. Lệnh đã giao là phải làm. Mệt cũng cố, nhớ nhà cũng cố, khó cũng không được lùi. Có những ngày, bàn tay tôi rát lên vì công việc, vì luyện tập, vì những việc tưởng nhỏ nhưng cứ nối tiếp nhau không dứt. Nhưng rồi chính từ những điều ấy, tôi thấy mình cứng cáp hơn từng ngày.

Người phụ nữ khi vào quân đội không đánh mất đi sự mềm mại của mình. Chỉ là trong sự mềm mại ấy có thêm bản lĩnh.

Tôi vẫn biết thương, biết nhớ, biết xúc động trước một lá thư nhà, biết chạnh lòng khi nghĩ đến mẹ, đến quê hương. Nhưng tôi cũng biết đứng vào hàng ngũ, biết chấp hành kỷ luật, biết hoàn thành phần việc được giao, biết không để mình trở thành người yếu nhất trong tập thể.

Trong đơn vị, tôi quý nhất là tình đồng đội. Những năm tháng chiến tranh và sau chiến tranh, đời sống còn thiếu thốn lắm. Có khi một bữa cơm chẳng đầy đủ, một vật dụng nhỏ cũng phải giữ gìn cẩn thận. Nhưng tình người thì ấm. Chị em trong đơn vị thương nhau bằng những điều rất giản dị: nhắc nhau chỉnh lại cổ áo, chia nhau chút đồ dùng, hỏi han khi ai đó mệt, ngồi bên nhau lúc nhớ nhà.

Có những đêm, sau một ngày dài, tôi nằm xuống mà lòng vẫn chưa ngủ được. Ngoài kia là tiếng gió, tiếng bước chân trực gác, tiếng sinh hoạt xa dần trong đơn vị. Tôi nghĩ về quê nhà, nghĩ về những người thân đang mong tin mình. Nhưng rồi tôi lại nghĩ đến đất nước. Nghĩ đến bao người đã hy sinh. Nghĩ đến những người lính ngoài mặt trận còn gian khổ hơn mình rất nhiều. Thế là nước mắt có khi vừa ứa ra, tôi lại tự lau đi. Mình đã là quân nhân thì phải biết mạnh mẽ.

Năm 1975, đất nước đi đến ngày toàn thắng. Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thống nhất, cảm xúc trong tôi không thể nào quên. Niềm vui ấy lớn lắm. Một niềm vui mà cả đời người chỉ có thể được sống một lần. Nhưng trong niềm vui ấy cũng có bao điều lắng lại. Bởi để có ngày đất nước sum họp, biết bao người đã không trở về. Có những bà mẹ mất con, có những người vợ mất chồng, có những đồng đội không kịp nhìn thấy hòa bình.

Tôi nhớ mình đã lặng đi trong niềm vui ấy. Vui vì đất nước thống nhất. Vui vì những năm tháng chiến đấu, hy sinh của dân tộc đã đi đến thắng lợi. Nhưng cũng tự nhắc mình rằng: hòa bình quý lắm, và hòa bình ấy không được phép bị coi nhẹ.

Sau năm 1975, tôi tiếp tục ở lại quân đội. Nhiều người nghĩ đất nước thống nhất rồi là mọi thứ sẽ nhẹ nhàng ngay. Nhưng thật ra, những năm sau chiến tranh còn rất nhiều khó khăn. Vết thương chiến tranh còn đó. Cuộc sống nhân dân còn thiếu thốn. Đơn vị vẫn phải ổn định, rèn luyện, thực hiện nhiệm vụ. Rồi cuối những năm 1970, tình hình biên giới lại đặt ra những thử thách mới. Người lính chúng tôi luôn được nhắc phải giữ tinh thần sẵn sàng, không được chủ quan.

Từ năm 1972 đến tháng 3 năm 1979, bảy năm quân ngũ đã đi qua đời tôi như một dòng sông sâu. Có đoạn dữ dội, có đoạn lặng lẽ, có đoạn nhiều nước mắt, có đoạn đầy niềm vui. Tôi đã đi qua những năm cuối chiến tranh, đi qua ngày đất nước thống nhất, rồi đi tiếp qua những năm đầu hòa bình còn bộn bề gian khó.

Bảy năm ấy đã rèn tôi thành một con người khác. Tôi biết sống kỷ luật hơn. Biết chịu đựng hơn. Biết thương đồng đội hơn. Biết quý trọng từng ngày bình yên hơn. Biết rằng người phụ nữ không chỉ mạnh mẽ khi làm những điều lớn lao, mà còn mạnh mẽ khi âm thầm gánh vác, âm thầm vượt qua, âm thầm giữ vững trách nhiệm của mình.

Tháng 3 năm 1979, tôi xuất ngũ.

Ngày rời đơn vị, tôi nhìn lại bộ quân phục, nhìn lại những vật dụng đã gắn bó với mình suốt nhiều năm mà lòng bâng khuâng. Tôi vào quân đội khi đất nước còn chiến tranh. Tôi rời quân đội khi đất nước đã thống nhất nhưng vẫn còn nhiều thử thách. Giữa hai thời điểm ấy là cả tuổi thanh xuân, là mồ hôi, là nỗi nhớ, là tình đồng đội, là niềm tự hào không thể nói hết bằng lời.

Trở về đời thường, tôi lại làm một người phụ nữ của gia đình, của quê hương. Nhưng trong tôi, người lính năm xưa vẫn còn đó. Nó ở trong cách tôi sống có nề nếp. Ở sự chịu khó trong lao động. Ở việc không dễ nản khi gặp khó khăn. Ở cách tôi biết nghĩ cho việc chung, biết trân trọng tình làng nghĩa xóm, biết quý từng bữa cơm bình yên.

Tôi không kể câu chuyện của mình để nói rằng mình đã làm điều gì lớn lao. Tôi chỉ là một nữ quân nhân bình thường trong một thế hệ đã đi qua những năm tháng không bình thường của đất nước. Nhưng tôi tự hào vì mình đã có mặt trong những năm tháng ấy, đã sống một phần tuổi trẻ trong màu áo lính, đã góp một phần nhỏ bé vào chặng đường chung của Tổ quốc.

Bây giờ, nhìn lại đôi bàn tay mình, tôi thấy trên đó có dấu vết của thời gian, của lao động, của cuộc đời. Nhưng sâu trong ký ức, tôi vẫn nhớ đôi bàn tay ấy đã từng chỉnh lại quân phục, từng gấp quân trang, từng làm những công việc thầm lặng trong đơn vị, từng lau vội nước mắt khi nhớ nhà, rồi lại tiếp tục làm nhiệm vụ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đôi bàn tay tôi đã gửi vào năm tháng quân ngũ | Câu chuyện thời hoa lửa