Đôi dòng Hồi ký ức
Đôi dòng Hồi ký ức về thời gian tham gia chiến đấu Bảo vệ Tổ Quốc và làm Nghĩa vụ Quốc tế tại chiến trường Campuchia.
Đầu năm 1979, cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và đánh đuổi bọn diệt chủng Khơ-me Đỏ mở màn. Khi ấy, thế hệ chúng tôi ở độ tuổi mười tám đôi mươi đầy nhiệt huyết, vừa thực hiện Nghĩa vụ Quân sự, vừa chấp hành lệnh Tổng động viên của Tổ quốc.
Tháng 7 năm 1979, tôi chính thức nhập ngũ. Sau hai tháng huấn luyện cấp tốc nơi quân trường, đơn vị chúng tôi nhận lệnh hành quân gấp lên biên giới Đông Bắc. Tại cột mốc số 23 (biên giới Việt Nam – Campuchia), tôi được biên chế về Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 143, Sư đoàn 315. Lúc bấy giờ, bộ chỉ huy Sư đoàn đóng tại Ta Keo (tỉnh Ratanakiri, Campuchia), còn Trung đoàn chúng tôi đóng quân tại Chân Tụ.
Gian khổ nơi chiến trường Đông Bắc
Thời gian này, nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị là tập trung truy quét tàn quân thuộc Sư đoàn 801 và 802 của Khơ-me Đỏ đang lẩn trốn tại 3 tỉnh Đông Bắc Campuchia. Là đơn vị chủ lực đảm nhiệm tuyến đầu, Tiểu đoàn 1 chúng tôi vừa gùi súng gùi đạn truy quét địch, vừa tập trung dẫn dân bản từ các nông trường sản xuất và trại cai quản của Khơ-me Đỏ trở về lại buôn làng, giúp họ ổn định cuộc sống.
Cuộc chiến trên đất bạn vô cùng khốc liệt và gian khổ:
Mùa mưa: Hành quân trong biển nước, bộ đội phải đội ba lô, súng đạn lên đầu để lội qua những vùng ngập lụt.
Mùa nắng: Khô hạn gay gắt. Nếu hành quân không chấm tọa độ chuẩn xác, anh em rất dễ bị chết khát vì không tìm được suối nước.
Kỷ luật chiến trường: Thực hiện nghiêm túc 9 điều quy định của Bộ Quốc phòng khi làm nhiệm vụ quốc tế: "Chỉ được hít thở không khí, không được xâm phạm hay dùng bất kỳ vật dụng, thực phẩm nào của dân hoặc trên đất nước bạn".
Chính vì thế, cuộc sống của bộ đội vô cùng thiếu thốn. Ở hậu cứ, bữa cơm hàng ngày chỉ có cơm trắng, nước muối và canh rau tự tăng gia sản xuất. Còn khi hành quân chiến đấu, hành trang chỉ có muối và bột canh – đó là "mùi vị" đặc trưng, trường kỳ của chính trường lúc bấy giờ.
Những trận đánh và chiến dịch đáng nhớ
Trên đường truy quét, chúng tôi liên tục phải đối mặt với các trận phục kích, những bãi chông, mìn dày đặc của địch. Từ những trận giáp lá cà nảy lửa, đơn vị đã tiến lên đánh chiếm các nông trường O-lông-non (Olonnon) và nông trường Na-va (Nava).
Dấu chân của chúng tôi in hằn từ Chân Tụ (Ratanakiri) đến đèo Xiêm Păng, vượt sông Tonle San, qua Viêu Suy đến Tra La. Đơn vị đã tham gia vào những chiến dịch lớn mang tính quyết định:
Chiến dịch Khu C: Ngã ba biên giới Lào – Việt Nam – Campuchia.
Chiến dịch 547: Tại biên giới Thái Lan, triệt hạ hang ổ cuối cùng của tập đoàn Pôn Pốt – Ieng Sary.
Khúc tráng ca suối Pro-viêng và nghĩa tình đồng đội
Những dấu ấn chiến trường ấy đã khắc sâu vào máu thịt, chúng tôi không bao giờ quên. Suốt 25 năm qua, cứ đến ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7, những người lính năm xưa lại tập trung về Nghĩa trang Liệt sĩ Ninh Hòa – Vạn Ninh để làm "giỗ trận" cho 13 đồng đội thuộc đơn vị C1, D1, E143, F315.
Các anh đã anh dũng hy sinh tại suối Pro-viêng (tỉnh Preah Vihear, Campuchia) trong một trận chiến không cân sức giữa Đại đội 1 của ta và một Trung đoàn sừng sỏ mang phiên hiệu "Rồng Xanh" của bọn Pôn Pốt.
Có thể nói, thế hệ chúng tôi ngày ấy – những người lính cầm súng bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế – đã phải trải qua một thời kỳ gian khổ và ác liệt bậc nhất sau cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Những dòng ký ức ngắn ngủi này tuy không thể tả hết muôn vàn gian lao, vất vả, nhưng là minh chứng cho một thời kỳ rực lửa, đầy tự hào của tinh thần bộ đội Cụ Hồ trên đất bạn.



