Đội du kích Ba Tơ – Nòng cốt vũ trang trong chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân tỉnh nhà. Thắng lợi ấy là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức và lực lượng, trong đó Đội du kích Ba Tơ giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Từ một đội vũ trang chỉ có 28 cán bộ, chiến sĩ khi mới thành lập, lực lượng này từng bước trưởng thành, trở thành nòng cốt trong xây dựng căn cứ cách mạng, phát triển phong trào quần chúng và chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Từ Khởi nghĩa Ba Tơ đến xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương, tạo ra những chuyển biến quan trọng trong tình hình chính trị và quân sự. Nắm bắt thời cơ, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi quyết định phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, đồng thời thành lập lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho phong trào cách mạng.
Ngày 12-3-1945, Đội du kích Ba Tơ ra đời với 28 cán bộ, chiến sĩ, được tổ chức thành ba tiểu đội. Đây là đội vũ trang tập trung đầu tiên của Đảng ở tỉnh Quảng Ngãi và khu vực Nam Trung Bộ. Sự ra đời của Đội gắn liền với thắng lợi của Khởi nghĩa Ba Tơ, đánh dấu bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, tạo tiền đề cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và mở rộng căn cứ cách mạng.
Sau khởi nghĩa, nhằm bảo toàn lực lượng, củng cố tổ chức và chuẩn bị cho những nhiệm vụ tiếp theo, chiều 14-3-1945, Đội du kích Ba Tơ cơ động lên vùng núi Cao Muôn, thuộc khu vực Ba Chùa, Ba Tơ. Đến ngày 19-3, Đội đóng quân tại Nước Sung, vừa tổ chức huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, vừa đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân, xây dựng cơ sở cách mạng.
Trong quá trình hoạt động, cán bộ, chiến sĩ của Đội luôn chú trọng giữ gìn kỷ luật, gắn bó với đồng bào, tích cực giúp đỡ nhân dân và tuyên truyền đường lối cách mạng. Nhờ đó, Đội nhận được sự tin yêu, đùm bọc của quần chúng. Nhiều thanh niên địa phương, trong đó có thanh niên dân tộc thiểu số, tình nguyện tham gia lực lượng vũ trang, góp phần tăng cường sức mạnh chiến đấu và mở rộng ảnh hưởng của phong trào cách mạng.

Phát triển lực lượng, xây dựng căn cứ và mở rộng phong trào cách mạng
Sau những tháng đầu vừa huấn luyện, vừa chiến đấu và vận động quần chúng, Đội du kích Ba Tơ có bước trưởng thành rõ rệt cả về tổ chức, số lượng và chất lượng. Từ lực lượng ban đầu gồm 28 người, Đội phát triển thành hai đại đội mang tên Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám. Trình độ quân sự, khả năng phối hợp chiến đấu và ý thức tổ chức, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ từng bước được nâng cao.
Tháng 5-1945, Đội cơ động về Trung Châu để tiếp tục hoạt động, bám sát cơ sở và mở rộng phong trào cách mạng. Các cán bộ, chiến sĩ tích cực huấn luyện lực lượng du kích, tự vệ tại các làng, vận động thanh niên tham gia tập luyện quân sự và xây dựng các tổ chức cứu quốc. Qua đó, phong trào quần chúng ngày càng phát triển, tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang với nhân dân.
Cùng với việc phát triển lực lượng, Đội tổ chức xây dựng hai chiến khu. Đại đội Phan Đình Phùng phụ trách xây dựng Chiến khu Bắc tại Vĩnh Sơn, huyện Sơn Tịnh; Đại đội Hoàng Hoa Thám xây dựng Chiến khu Nam tại Núi Lớn, huyện Mộ Đức. Đây là những địa bàn quan trọng để củng cố căn cứ, huấn luyện quân sự, bổ sung vũ khí, trang bị và tổ chức lực lượng.
Tại các chiến khu, Đội duy trì hoạt động huấn luyện chính trị, quân sự, xây dựng tổ chức và lựa chọn những người ưu tú để bổ sung cho lực lượng vũ trang tập trung. Đồng thời, các trung đội luân phiên về địa phương bám đất, bám dân, tuyên truyền cách mạng, gây dựng cơ sở và huấn luyện du kích. Quá trình đó góp phần hình thành lực lượng vũ trang với các bộ phận chủ lực, du kích và tự vệ, tạo cơ sở cho việc phối hợp đấu tranh trên phạm vi toàn tỉnh.
Gắn bó với nhân dân, tạo thế và lực cho Tổng khởi nghĩa
Một trong những đóng góp nổi bật của Đội du kích Ba Tơ là kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang với công tác vận động quần chúng. Thông qua tuyên truyền, giúp đỡ nhân dân và tổ chức các hoạt động cách mạng tại cơ sở, Đội từng bước củng cố niềm tin của đồng bào đối với Việt Minh, mở rộng các đoàn thể cứu quốc và phát triển mạng lưới cơ sở cách mạng ở nhiều địa phương.
Bên cạnh đó, Đội tổ chức chiến đấu bảo vệ căn cứ, chống các cuộc càn quét, đồng thời đấu tranh với những lực lượng và tổ chức chống phá phong trào cách mạng. Các hoạt động này góp phần hạn chế sự kiểm soát của chính quyền địch tại nhiều thôn, xã, tạo điều kiện để các tổ chức cách mạng hoạt động và phát triển.
Sự gắn bó giữa lực lượng vũ trang với nhân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp cho phong trào cách mạng Quảng Ngãi. Người dân không chỉ cung cấp lương thực, nơi ở và thông tin mà còn tích cực tham gia các tổ chức cứu quốc, lực lượng tự vệ và du kích địa phương. Nhờ đó, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang từng bước được củng cố, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu giành chính quyền khi thời cơ đến.
Đến cuối tháng 6-1945, Mặt trận Việt Minh Quảng Ngãi đã tập hợp hơn 70.000 hội viên cứu quốc. Lực lượng tự vệ cứu quốc và các tổ du kích được xây dựng ở hầu khắp vùng nông thôn và nhiều khu phố thuộc thị xã Quảng Ngãi, với tổng số hơn 2.000 người. Những kết quả đó cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, đồng thời phản ánh hiệu quả của quá trình chuẩn bị lực lượng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, trong đó Đội du kích Ba Tơ đóng vai trò quan trọng.
Trưởng thành về mọi mặt, góp phần làm nên thắng lợi Tháng Tám năm 1945
Từ khi thành lập đến trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Đội du kích Ba Tơ không ngừng lớn mạnh. Từ 28 cán bộ, chiến sĩ với 24 khẩu súng, sau khoảng năm tháng, lực lượng đã phát triển lên hơn 1.000 người với 60 khẩu súng. Không chỉ tăng về số lượng, Đội còn trưởng thành về bản lĩnh chính trị, trình độ quân sự, tổ chức chỉ huy và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn.
Quá trình xây dựng và phát triển của Đội đã góp phần chuẩn bị tương đối toàn diện các điều kiện cho cuộc tổng khởi nghĩa: củng cố căn cứ địa, mở rộng cơ sở cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang, vận động quần chúng và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Đây là những yếu tố quan trọng giúp phong trào cách mạng Quảng Ngãi phát triển mạnh mẽ, tạo thế và lực để nhân dân địa phương vùng lên giành chính quyền vào tháng 8-1945.
Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi vì vậy không chỉ là kết quả của việc nắm bắt đúng thời cơ, mà còn là thành quả của quá trình chuẩn bị bền bỉ, có tổ chức và gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong quá trình ấy, Đội du kích Ba Tơ đã khẳng định vai trò là lực lượng vũ trang nòng cốt, góp phần kết nối đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển trên toàn tỉnh.
Phát huy giá trị lịch sử của Đội du kích Ba Tơ trong giai đoạn hiện nay
Những hoạt động của Đội du kích Ba Tơ trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 để lại nhiều bài học lịch sử có ý nghĩa. Trước hết, đó là bài học về sự lãnh đạo, chỉ đạo chủ động, linh hoạt; về xây dựng lực lượng vũ trang phù hợp với yêu cầu thực tiễn; về kết hợp xây dựng căn cứ với phát triển phong trào quần chúng và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân.
Thực tiễn hoạt động của Đội cũng cho thấy, sức mạnh của lực lượng vũ trang không chỉ được tạo nên bởi số lượng chiến sĩ hay vũ khí, mà còn bắt nguồn từ bản lĩnh chính trị, tinh thần kỷ luật, năng lực tổ chức và sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân. Mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân chính là nền tảng quan trọng để xây dựng thế trận lòng dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Ngày nay, việc nghiên cứu, gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử của Đội du kích Ba Tơ góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí tự lực, tự cường cho các thế hệ. Những kinh nghiệm được đúc kết từ quá trình chuẩn bị Tổng khởi nghĩa năm 1945 tiếp tục có ý nghĩa trong xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.



