Cựu chiến binh

ĐỜI LÍNH CỦA TÔI- HOÀNG ĐÌNH VÂN

Lào Cai08/01/2026PHÙNG THỪA PHÚ (Xã Võ Lao)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi tên là Hoàng Đình Vân, sinh năm 1958, sinh ra và lớn lên tại xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai. Tuổi thơ tôi gắn liền với núi rừng, với những nương ngô, bờ suối, nhưng cũng gắn liền với những năm tháng đất nước chưa yên bình. Ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã tận mắt chứng kiến sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, thấy cảnh bà con phải bỏ nhà cửa sơ tán, thấy bộ đội ngày đêm hành quân trên những con đường núi hiểm trở. Những hình ảnh ấy in sâu vào tâm trí tôi, để rồi lớn lên, trong lòng tôi luôn nung nấu một một lần được đi tham gia chiến đấu bảo vệ tổ quốc; những năm ấy, tình hình biên giới phía Bắc vô cùng căng thẳng. Quân Trung Quốc liên tục kéo sang xâm chiếm, đánh phá các căn cứ quân sự, bắn phá làng bản, hãm hại người dân vô tội. Cả vùng biên giới Lào Cai khi ấy luôn trong tình trạng báo động. Đêm đêm nghe tiếng pháo vọng từ xa, lòng tôi nóng như lửa đốt. Năm tôi đủ 18 tuổi, không chần chừ suy nghĩ, tôi viết đơn xin nhập ngũ, tình nguyện lên đường tham gia bảo vệ Tổ quốc. Với tôi lúc đó, đi bộ đội không phải là vinh dự riêng, mà là trách nhiệm của một người con sinh ra trên mảnh đất biên cương. Năm 1977, tôi rời quê hương Võ Lao, tạm biệt gia đình, anh em, hành quân cùng các đồng đội lên doanh trại quân đội Km10, thành phố Yên Bái.

Những ngày đầu trong quân ngũ là những ngày huấn luyện vô cùng gian khổ. Chúng tôi phải đào hầm, đào hào, tập công sự chiến đấu, học bắn súng AK, pháo, tập hành quân đường dài, vượt rừng, vượt núi. Tay chân phồng rộp, lưng áo lúc nào cũng ướt đẫm mồ hôi, nhiều đêm nằm xuống là thiếp đi vì mệt. Nhưng chẳng ai kêu ca, bởi ai cũng hiểu: luyện tập gian khổ bao nhiêu thì khi ra chiến trường mới sống được bấy nhiêu. Sau những tháng ngày huấn luyện căng thẳng, tôi cùng đồng đội được lệnh ra chiến trường. Ngày đầu tiên tham gia chiến đấu, thú thật là tôi rất sợ. Sợ bom đạn, sợ cái chết cận kề. Nhưng nhìn sang anh em bên cạnh, ai cũng nghiến răng chịu đựng, động viên nhau giữ vững tinh thần. Chúng tôi tự nhủ: vì đất nước, vì gia đình phía sau, không được lùi bước. Tháng 11 năm 1978, đơn vị tôi bắt đầu hành quân theo đường 17 lên xã Bản Cầm, đóng chốt tại Km25 – Nông trường Phong Hải. Khi đó, tôi thuộc Sư đoàn 21, Trung đoàn 319, được phân công làm lính công binh. Nhiệm vụ của chúng tôi là đóng chốt từ Km19 đến Km29, bảo vệ đoạn biên giới dài khoảng 10km. . Trong suốt 5 tháng liên tục, chúng tôi đào 25 công sự chiến đấu, hơn 100 hầm hào lớn nhỏ, ngày làm đêm nghỉ, tranh thủ từng giờ để kịp chuẩn bị nếu chiến tranh nổ ra. Đất đá cứng như đá tảng, cuốc xẻng nhiều khi bật lửa, tay ai cũng chai sần, nhưng không ai bỏ cuộc. Ngày 19/4/1979, phía bên kia biên giới bắt đầu có tiếng súng đe dọa, pháo bắn rải rác vào khu vực chúng tôi bảo vệ. Khi ấy, quân ta vẫn án binh bất động, chờ lệnh. Một tuần sau, các đồng chí trinh sát báo về: quân địch đã chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh biên giới lớn, mục tiêu của họ là xâm nhập sâu vào lãnh thổ ta khoảng 100km. . Lúc này, toàn đơn vị bước vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Pháo binh được bố trí, súng AK lên nòng, đạn dược, vũ khí được tiếp tế đầy đủ. Đến ngày 30/4/1979, quân địch chính thức tấn công ồ ạt vào tuyến biên giới. Quân của họ rất đông, khoảng 2.000 tên, trong khi bên ta chỉ có hơn 1.000 quân, gồm cả công binh và bộ binh. Bom đạn trút xuống như mưa, đất đá tung lên mù mịt, tiếng pháo, tiếng súng nổ vang cả núi rừng. Trận chiến kéo dài suốt 3 tháng trời, ngày nào cũng là sinh tử. Tôi đã tận mắt chứng kiến ba người đồng chí thân thiết nhất của mình hy sinh, thân xác không còn nguyên vẹn vì trúng bom đạn của địch. Khốc liệt nhất là ngày 21/6/1979. Hôm ấy, cả hai bên đều bắn pháo dồn dập, như trút toàn bộ hỏa lực xuống trận địa. Núi rừng rung chuyển, khói lửa mịt mù. Sau trận đánh đó, quân địch gần như mất sạch lực lượng, nhưng quân ta cũng hy sinh gần một nửa. Đó là ngày mà tôi không bao giờ quên trong cuộc đời lính của mình. Đến tháng 8 năm 1979, quân ta hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ biên giới khu vực Bản Cầm. Toàn chiến dịch, gần 700 đồng chí của ta đã hy sinh, bắt sống được 50 tên địch. Sau khi lo chu đáo việc chôn cất các chiến sĩ hy sinh, chúng tôi trở về tuyến sau củng cố lực lượng, nhận bằng khen của đơn vị. Cá nhân tôi vinh dự được trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba.

Sau thắng lợi, đơn vị tôi tiếp tục ở lại chăm sóc, bảo dưỡng vũ khí, đạn dược, bàn giao tù binh trở về nước, giữ vững thế trận nơi biên giới. đến năm 1981 tôi được xuất ngũ, trở về quê hương Võ Lao.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn