Mẹ Nguyễn Thị Đởm sinh năm 1906, quê gốc ở Thụy Anh, Thái Bình,. Năm 1926, mẹ theo những người mộ phu vào Nam và chọn Biên Hòa làm quê hương thứ hai. Sống cảnh đời của một công nhân cạo mủ cao su, phải chịu bao sự áp bức, bóc lột tàn nhẫn của bọn cai và tổng đồn điền, mẹ đã sớm giác ngộ cách mạng và tích cực làm công tác tuyên truyền. Mẹ lấy chồng là ông Nguyễn Văn Biên, nhưng hạnh phúc ngắn chẳng tày gang khi mẹ luôn âm thầm xót xa với cảnh làm lẽ mọn. Năm 1935, người con trai Nguyễn Văn Dần ra đời, niềm vui chưa kịp trọn vẹn thì người chồng bị Pháp bắt và giết chết vì tội tham gia cách mạng, để lại mẹ côi cút một mình nuôi con.
Năm 1950, anh Dần tham gia cách mạng làm du kích ở xã An Lộc, và đến năm 20 tuổi thì chính thức thoát ly hoạt động bí mật. Ngày chia tay, anh nghẹn ngào nói với mẹ: “Con muốn ở nhà làm rẫy nuôi mẹ, nhưng giặc không để chúng ta yên ổn làm ăn... Mẹ hãy để con đi... Con còn phải trả thù cho cha nữa!”. Đứt ruột tiễn con vào kháng chiến, mẹ ở lại hậu phương tiếp tục tảo tần đủ mọi nghề, chắt chiu từng đồng tiền, bán cả chút vàng dành dụm để gửi cho con và ủng hộ anh em cách mạng. Trong những năm tháng hoạt động ấy, mẹ từng vào tù ra khám nhiều lần (có năm bị tù tới bốn lần), gánh chịu những trận đòn roi tra khảo tàn bạo nhưng địch không tài nào moi được chứng cớ gì từ người phụ nữ kiên trung ấy.Sau ngày đất nước giải phóng, mẹ Đởm sống trong trại nuôi dưỡng cha mẹ liệt sĩ bên bờ sông Đồng Nai, mang trong lòng nỗi đau đáu chờ mong người con trai duy nhất. Đôi mắt mẹ đã bao lần ngóng trông người núm ruột trở về, nhưng con mẹ đã mãi mãi nằm lại chiến trường, khiến đôi mắt ấy mỗi ngày một mờ đi vì khóc thương con. Dẫu mang nỗi đau tận cùng, mẹ vẫn gạt đi nước mắt và kiên cường khẳng định rằng nếu bà mẹ nào cũng muốn giữ con ở nhà với mình, thì đất nước này sẽ về đâu. Sự hy sinh thầm lặng và vĩ đại ấy đã tạc nên bức tượng đài bất tử về người mẹ anh hùng, cống hiến trọn vẹn những gì quý giá nhất cho nền độc lập tự do của Tổ quốc.