ĐỐI MẶT VỚI XE TĂNG M48 CỦA ĐỊCH
Rạng sáng 30-4-1975, Đại đội 1 được giao nhiệm vụ đi đầu đánh chiếm ngã tư Bảy Hiền – Lăng Cha Cả, mở cửa tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu. Khi đến Bảy Hiền, đơn vị bị xe tăng M48 phục kích, đại đội trưởng hy sinh. Trong tình thế “mặt đối mặt”, xe T54 của ta do anh Hoạt chỉ huy đã quyết đoán tăng tốc, lao thẳng áp đảo M48, buộc địch hoảng loạn tháo chạy. Thừa thắng xông lên, đơn vị chiếm Lăng Cha Cả, tiến vào Tân Sơn Nhất và đến 11 giờ ngày 30-4-1975 làm chủ mục tiêu, góp phần
Tiểu đoàn xe tăng chúng tôi nguyên là Tiểu đoàn 297 thuộc Lữ đoàn xe tăng 203, Bộ Tư lệnh Tăng Thiết giáp, sau khi tham gia chiến dịch đường số 9 Nam Lào, cuối năm 1971, đơn vị được điều vào Mặt trận Tây Nguyên (B3) khi trung đoàn xe tăng Tây Nguyên được thành lập, mang tên: Trung đoàn 273, Tiểu đoàn 297 được đặt tên là Tiểu đoàn 1 nằm trong biên chế của trung đoàn.
Trên Mặt trận Tây Nguyên tiểu đoàn đã tham gia các trận đánh: Giải phóng Đắc Tô, Tân Cảnh trong chiến dịch xuân hè 1972. Các trận: Buôn Mê Thuộc, Cheo Reo, Phú Bổn, Tuy Hòa mùa xuân 1975.
Sau trận Tuy Hòa tiểu đoàn được lệnh tiến quân vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Lữ đoàn 273 nằm trong biên chế Quân đoàn 3 và vinh dự được đảm nhiệm mũi tiến công quan trọng: đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn.
Vào hồi 4 giờ 30 phút ngày 29’4-1975 tiểu đoàn được lệnh xuất kích. Bầu trời như rực lửa. sau khi Đại đội xe tăng 9 đánh chiếm được Củ Chi - Cầu Bông, chiếm mặt đường 14 bỏ qua các mục tiêu khác trên đường tiến quân lao thẳng tới mục tiêu chủ yếu: Sân bay Tân Sơn Nhất.
Trên quãng đường 60km tiến quân, anh Nguyễn Xuân Trường, chính trị viên đại đội luôn nhắc chúng tôi bám sát đội hình, tăng tốc độ tiến quân. Đến 14 giờ Trung đội xe tăng 1 chúng tôi đến căn cứ Quang Trung. Căn cứ này có 13 nghìn tên. Tại đây địch chống cự rất quyết liệt.
Trời bỗng đổ mưa, nhưng chúng tôi vẫn thấy oi bức, cái nóng hừng hực của trận đánh, nhưng mưa nặng hạt đã hạn chế tầm nhìn qua kính chỉ huy, do đó các trưởng xe đều phải mở cửa chỉ huy, nhô người khỏi tháp pháo để quan sát... mũ công tác bị ướt đẫm nên hệ thống thông tin qua mạng vô tuyến trong xe bị nhiễu, đội hình tiến công bị chậm lại.
Trước tình hình khó khăn ấy, chính trị viên đại đội Nguyễn Xuân Trường đã chỉ huy xe tăng của mình vọt lên dẫn đầu đội hình đại đội, anh mở cửa chỉ huy, nhô mình ra ngoài tháp pháo vẫy tay ra hiệu cho Trung đội 1 chúng tôi khẩn trương tiến quân.
Thấy hành động của người lãnh đạo của Đảng như vậy (anh là Bí thơ Chi bộ), chúng tôi thấy rõ việc phải làm vào cái thời điểm khó khăn và khẩn trương ấy, nhưng đúng lúc ấy anh Trường đã trúng đạn của quân thù. Người thanh niên quê lụa Hà Tây, dũng cảm tháo vát ấy đã anh dũng hy sinh. Anh vẫn đứng trên ghế chỉ huy và phần thân trên gục trên tháp pháo... Một “dáng đứng Việt Nam” thật oai hùng...
Căm thù quân giặc và vô cùng xúc động về tấm gương dũng cảm của anh - người Bí thư Chi bộ Đảng. Qua máy nói xe tăng, tôi hét lên “Xe tăng lao lên! Hãy trả thù cho anh Trường”.
Tập trung hỏa lực tiêu diệt ổ đề kháng Quang Trung, xốc tới sân bay Tân Sơn Nhất. Trời vẫn đổ mưa rào, tầm nhìn vẫn bị hạn chế song không thể ngăn cản nổi sức tiến công của xe tăng, tiếng gầm rú của động cơ xe tăng vang lên, có lẽ các lái xe đã “đạp chân dầu hết cỡ”.
Phải chăng tiếng gầm rú của động cơ xe tăng và đạn pháo xe tăng nổ vang trời vào lúc đó là tiếng thét căm hờn đang dồn nén trong con tim chúng tôi đã bùng lên dữ dội. Căn cứ Quang Trung đã bị đập tan tành, quân địch hoảng loạn quẳng súng đạn, mũ, áo, giày dép tháo chạy toán loạn.
Đến 1 giờ Đại đội xe tăng 1 chúng tôi đã đến gần sân bay Tân Sơn Nhất. Chúng tôi được lệnh “Tạm dừng, triển khai đội hình chiến đấu’ mưa đã tạnh, trên bầu trời máy bay ngụy di tản, tiếng rền vang như kêu khóc, chúng tôi chờ đợi các trận đánh hôm sau: 30-4-1975.
Hồi 3 giờ 00 ngày 30-4-1975, tiểu đoàn triệu tập cán bộ Đại đội 1 chúng tôi, để giao nhiệm vụ và bàn phương án chiến đấu. Đại đội chúng tôi vẫn làm nhiệm vụ đi đầu đội hình chiến đấu của tiểu đoàn, còn trung đội 1 do tôi chỉ huy đi đầu đại đội.
Tuy được sự giúp đỡ chỉ đường của nữ chiến sĩ biệt động thành phố Nguyễn Thị Trung Kiên, song cách sử dụng xe tăng đánh trong thành phố vẫn còn là điều rất bỡ ngỡ đôi với chúng tôi, do đó phương châm tác chiến là: Tiến chắc, đánh chắc”.
Trước mắt mục tiêu là đánh chiếm ngã tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, đó là các điểm phải đột phá, để mở cửa tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu ngụy. 5 giờ 00 trung đội tôi được lệnh xuất kích. Trung đội có 4 xe tăng, đi theo đội hình chữ chi và cách xa nhau để có thể yểm trợ bằng tất cả các loại hỏa lực cho xe đi trước.
Đi dầu trung đội là xe Đại đội trưởng - anh Tư, tiếp sau là xe 985 do anh Hoạt chỉ huy, thứ ba là xe 890 do tôi chỉ huy, xe cuối cùng do anh Thuận chỉ huy. Đường phố lặng ngắt như ngạt thở, pháo binh của ta đang “cấp tập” từng đợt vào căn cứ địch. Thỉnh thoảng có vài tên lính ngụy chạy, có lẽ đó là những tên lính trinh sát tình hình.
Đến 6 giờ 30 Đại đội 1 chúng tôi đã đến ngã tư Bảy Hiền. Chúng tôi tạm dừng xe quan sát. Chưa thấy gì khả nghi, xe của Đại đội trưởng Tư rẽ trái tiến về phía Lăng Cha Cả. Lúc này 2 xe tăng M48 ở các ngách mới nhô ra chặn đánh. Xe Đại đội trưởng Tư bị trúng đạn bốc cháy. Thế là ngày 29-4-1975 chính trị viên Đại đội 1 của chúng tôi hy sinh khi đánh căn cứ Quang Trung, còn ngày 30-4- 1975 đại đội trưởng Tư của chúng tôi lại hy sinh tại ngã tư Bảy Hiền.
Các xe tăng 985 và 890 triển khai bắn xe tăng M48 của địch. Anh Mai Văn Hoạt chỉ huy xe tăng 985 phán đoán: Địch phục kích ở khu vực bệnh viện Vì Dân (nay là bệnh viện Thống Nhất) nếu không diệt phân đội xe tăng M48 phục kích ở đó thì khó vượt được ngã tư Bảy Hiền. Anh Hoạt dùng máy nói trong xe báo cho tôi, yêu cầu bắn yểm trợ, rồi bất ngờ xe tăng 985 của anh rẽ phải, quả nhiên 2 xe tăng M48 của địch phục kích đã nhô ra và bắn trượt qua mũi xe tăng của anh. Tôi quan sát thấy 1 xe tăng M48 của địch nhô đầu ra khỏi góc phố. Đến đây có thể nhiều bạn đọc ngày nay chưa thể hình dung tình thế khẩn trương lúc xe tăng của ta “mặt đối mặt” với xe tăng địch ngày ấy.
M48 của Mỹ là loại xe tăng mạnh nhất ngày đó của ngụy quân. Trọng lượng chiến đấu là 45 tấn, cỗ pháo 90 milimét vỏ xe bằng thép dày từ 76 đến 100 milimét, tốp xe có 4 tên. Còn xe T54 của ta trọng lượng chiến đấu 36 tấn, cỗ pháo 100 mihmét nếu dùng đạn xuyên thép thì có thể bắn mục tiêu cao 2m50 ở cự ly xa nhất là 1.000 mét.
Như vậy hoàn toàn có thể dùng đạn xuyên thép diệt xe tăng M48 của địch, song cự ly quá gần, hơn nữa chắc chắn xe tăng M48 phục kích xe tăng ta, nên chúng đã lắp sẵn đạn xuyên thép rồi. Vì vậy lúc đó, nếu ta ra tay chậm hơn kẻ địch chỉ 1 giây thôi thì sẽ bị địch bắn trúng và chắc chắn cả kíp xe khó tránh khỏi thương vong.
Trong giây phút đó, tài của người chỉ huy ở chỗ phải quyết đoán và ra tay thật nhanh trước khi địch kịp ra tay. Qua máy vố tuyến tôi chỉ nghe anh Hoạt hô to: Lái xe, tăng tốc lao thẳng vào xe tăng quân thù”.
Chiến sĩ lái xe tăng Phùng Văn Tính hiểu ý chỉ huy anh nhấn mạnh chân dầu, gạt cần sang số điều khiển xe tăng T54 lao thẳng vào đầu xe tăng M48. Qua kính chỉ huy tôi quan sát thấy chiếc xe tăng T54 của ta như con mãnh hổ chồm lên mũi xe tăng M48. Còn xe tăng M48 của địch như bị con sư tử oai bùng vừa ngoạm cổ, vừa dùng móng vuốt tát một cái chí mạng. Rồi xe tăng M48 rung động mạnh và chạy lùi.
Quá hoảng loạn chiếc xe tăng M48 lùi vào mặt tiền của 1 căn nhà, căn nhà ụp xuống đổ cả đống gạch, vữa của căn nhà đè lên xe tăng M48, những tên lính M48 vừa bắn trộm kia, đã vội chui qua cửa xe thoát hiểm ở gầm xe, chạy biến mất trong đống gạch đổ nát.
Thừa thắng, toàn Trung đội 1 chúng tôi và các Trung đội 2, Trung đội 3 ào ào lao lên. Đến 10 giờ 30 đơn vị đánh chiếm Lăng Cha Cả, rồi tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu ngụy. Sau những trận đánh tiếp đến 11 giờ 00 ngày 30-4-1975 quân ta đã làm chủ chiến trường. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng.



