Bài viết

Đội nữ Tuyên truyền úy lạo của Trung đoàn Thủ đô (1946-1947)

Trong 60 ngày đêm chiến đấu của Trung đoàn Thủ đô - “Đội quân quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã diễn ra biết bao sự kiện vừa hùng tráng oanh liệt, vừa lạ lùng, khó tưởng tượng nổi, mà tôi là người chứng kiến, đồng thời cũng là người tham gia tạo thành. Nhưng 70 năm đã trôi qua khiến tôi đã quên nhiều việc, nay chỉ còn nhớ lại được những sự kiện lớn, nói đúng hơn là những kỷ niệm sâu sắc nhất, một số chi tiết đã để lại cho tôi những ấn tượng suốt đời không quên.

Phú Thọ17/07/2026CLB trẻ (CLB trẻ)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lúc đó, tôi mới 19 tuổi và là một cô nữ sinh, xuất thân từ một gia đình nhà giáo có nếp sống rất quy củ chặt chẽ. Tôi đã tham gia cách mạng từ đầu năm 1945 và trở thành một cán bộ của Hội Phụ nữ Cứu quốc, một nữ tự vệ chiến đấu, một truyên truyền viên của khu Hoàn Kiếm. Tháng 9-1946, tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản, tinh thần càng hăng hái, quyết tâm hy sinh vì cách mạng, vì dân tộc.

Những ngày chuẩn bị tích cực, khẩn trương cho cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, chi bộ Hoàn Kiếm họp phân công tôi vào Đội tuyên truyền liên lạc của Khu Hoàn Kiếm, người phụ trách là anh Hồng Lĩnh (sau làm Tổng Biên tập báo Hà Nội mới). Chi bộ giao cho tôi một quả lựu đạn để chiến đấu mà tôi cũng chưa biết cách sử dụng, sau đó tôi được bạn bè cho một khẩu súng lục nhỏ đạn 6x35 nhỏ xíu, tôi yên tâm luôn giữ bên mình.

Đoàn pháo binh Thủ đô tại sân trại Vệ quốc đoàn, 29-6-1946.

(Ảnh tư liệu)

Ngày 19/12/1946, khoảng 8h tối, cả Hà Nội tiếng súng vang động, bầu trời mùa đông tối mịt bỗng rực sáng như đốt pháo hoa: cuộc chiến đã bắt đầu! Chúng tôi mỗi người một nhiệm vụ, nhanh chóng bắt tay vào công việc được phân công. Đội tuyên truyền của khu Hoàn Kiếm có nhiều nữ, tôi chỉ nhớ có các chị Thịnh, chị Mai, chị Xuyến.... Chúng tôi có trách nhiệm đi lấy tin tức chiến đấu của mặt trận Hoàn Kiếm, đi gặp gỡ đồng bào, giải thích về chủ trương, chính sách của Chính phủ, động viên họ yên tâm chờ đợi, quân đội ta sẽ bảo vệ cho họ di tản khỏi Hà Nội ban đêm. Mặc dù trước đó, Chính phủ đã kêu gọi nhân dân tản cư, nhưng còn hàng vạn người mắc kẹt tại Liên khu I khi cuộc chiến đấu nổ ra. Chúng tôi còn đem đến cho đồng bào những nắm cơm với muối vừng do đội nữ tiếp tế chuẩn bị sẵn. Chúng tôi cứ lao vào cuộc chiến với quyết tâm hy sinh cả tính mạng mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, tâm hồn rất nhẹ nhàng, thanh thản.

2 - Bước chuyển lên Trung đoàn Liên khu I, làm đội trưởng đội nữ tuyên truyền úy lạo của Trung đoàn.

Sau hơn 1 tuần lễ, khoảng ngày 26-12-1946, tôi và chị Xuyến được chuyển lên công tác tại Ban tham mưu Trung đoàn Liên khu I, tham gia vào Ban Tuyên truyền của Trung đoàn. Phụ trách Ban Tuyên truyền là đồng chí Hoàng Đức Nghi. Đội có nhiệm vụ hàng ngày xuất bản tờ báo Chiến Thắng. Có 2 phóng viên viết bài là đồng chí Nguyệt (đã hy sinh) và đồng chí Chính Hữu (nhà thơ hiện nay), 2 thợ in báo, 1 chị cấp dưỡng và đội nữ tuyên truyền úy lạo. Đội chúng tôi có 4 người: Lê Thi - Đội trưởng, Trịnh Thị Xuyến (vợ đồng chí Đinh Đức thiện), Đinh Thị Quý (vợ đồng chí Hoàng Phương), Nguyễn Thị Oanh (đã mất tại Tuyên Quang năm 1949).

Với nhiệm vụ của những chiến sĩ truyên truyền úy lạo, trong điều kiện mặt trận giáp lá cà giữa ta với địch, chúng tôi đi tới các ụ chiến đấu gặp anh em chiên sĩ hỏi thăm, thu thập tin tức về cung cấp cho tòa soạn báo Chiến Thắng. Chúng tôi đọc báo Chiến Thắng cho anh em nghe, phổ biến tin tức khi biết được điều gì mới. Đôi khi chúng tôi hát, động viên anh em, khâu vá quần áo giúp họ (ví dụ khuy đứt, áo rách...). Một việc không kém phần quan trọng là chúng tôi thường xuyên đi úy lạo thương bệnh binh ở trạm xá phố Hàng Buồm, đặt ở hiệu buôn xuất nhập khẩu Nam Long của Hoa Kiều (khu Hoa kiều ở đông, địch không dám đánh hoặc bắn moctier, ném bom...) Chúng tôi đem hoa quả, bánh kẹo của Trung đoàn gửi cho anh em. Quà này do đội nữ giao thông liên lạc khu Lãng Bạc (Nhật Tân, Tây Hồ) đã vượt qua bao chặng đường nguy hiểm để chuyển từ hậu phương vào cho anh em bộ đội. Thăm hỏi tình trạng bệnh tật của anh em, chúng tôi động viên, an ủi họ, hát, đọc báo Chiến Thắng, hoặc báo từ ngòai đem vào, nói chuyện tin tức mặt trận cho anh em nghe.

Các nữ chiến sĩ cứu thương vận chuyển thương binh, 12-1946.

(Ảnh tư liệu)

Công việc của chúng tôi chỉ vụn vặt, đơn giản như vậy đó. Thế nhưng ngày nào chúng tôi cũng đi suốt từ sáng đến tối, chia nhỏ 2 người một tốp đến các mặt trận của Liên khu I (lúc đó Trung đoàn Thủ đô còn có 3 tiểu đoàn, đại diện cho 3 khu: Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đồng Xuân. Khu Hoàn Kiếm thì bị địch chiếm gần hết). Khi tới trạm xá thăm thương bệnh binh, chúng tôi đi cả 4 người.

Để di chuyển từ nhà này sang nhà khác, chúng tôi chui qua các lỗ thủng đã đục sẵn trên tường (khi đánh nhau, ta đã đục tường thông các nhà để không phải ra ngoài phố). Cũng có những quãng chúng tôi phải chạy ra ngoài đường và đi ngang qua phố phải xuống giao thông hào, đào sâu dưới lòng đường. Bàn ghế và nhiều đồ vật khác đã được ném trên đường dọc theo giao thông hào để bảo vệ, chống sự phản kích hay bắn tỉa của địch từ xa. Đôi lúc đang đi, chúng tôi nghe tiếng đạn moctier địch bắn rào rào, vội vàng nằm rạp xuống đường, chờ đạn nổ tung ở xa lại đi tiếp. Chúng tôi cứ quen dần đi, chẳng thấy sợ hãi gì, vượt qua nguy hiểm lại cười rúc rích. Những ngày cuối tháng 1-1947, địch ném bom vào các khu quân ta chiếm giữ, chính mắt tôi được chứng kiến (và cũng là lần đầu) nhìn thấy máy bay địch xà xuống nhả bom (vì ném bom trong thành phố, lại muốn trúng, không nhầm vào khu của chúng chiếm giữ nên máy bay xà xuống rất thấp và bay chậm).

Em bé liên lạc Nguyễn Bá Khán đưa bánh chưng đến các chiến sĩ, 1947. (Ảnh tư liệu)

Còn sinh hoạt đời sống hàng ngày của chúng tôi thế nào? Lúc chuẩn bị rời nhà đi tập trung chiến đấu, mỗi chúng tôi chỉ kịp mang theo vài bộ quần áo. Tất nhiên chúng tôi phải vứt bỏ áo dài và quần trắng, mà mặc quần đen và áo vét cũng màu sẫm. Sau đó ít lâu, Trung đoàn có phát cho chúng tôi một bộ áo bộ đội màu kaki, vải mỏng, xẻ đằng sau lưng. Bốn chúng tôi đều cắt tóc ngắn, uốn tử tế vào dịp 19-8-1946. Dạo đó đang mùa rét, chúng tôi nằm không màn, chăn thì mượn tạm của chủ nhà để lại.

Hai tháng quân dân ta bị địch bao vây trong Liên khu I thì hai vấn đề khó khăn nhất cho cuộc sống hàng ngày là thiếu nước và thiếu rau quả tươi. Nhà máy điện, nhà máy nước đều bị phá hoại không có nước dùng, chủ yếu trông vào mấy cái giếng đào. Chúng tôi rửa mặt qua loa, không thể tắm được, và ít thay quần áo, còn nước sạch phải giành cho nấu ăn. Cũng may là trời rét nên chúng tôi cũng tạm khắc phục được tình trạng thiếu nước.

Tự vệ Hà Nội chiến đấu bảo vệ từng căn nhà, góc phố, 1946. (Ảnh tư liệu)

Còn về bữa ăn, chủ yếu chúng tôi ăn cơm với muối vừng, lạc, cá khô, tôm khô và nước mắm, thỉnh thoảng cũng được cấp ít đường. Đó là những thứ dự trữ được từ trước, nhưng lại rất thiếu rau tươi. Đêm đêm mấy chị cấp dưỡng đã mạo hiểm bò ra bãi ven sông Hồng (lúc đó không có nhà cửa, các gia đình nông dân chỉ toàn trồng các loại rau cải, xu hào, cải bắp...) để lấy rau tươi về cho anh em các đơn vị ăn. Mỗi khi bữa ăn có rau tươi là như một bữa tiệc nhỏ. Về sau, chị em có sáng kiến ngâm đỗ xanh làm giá, xay đỗ tương làm đậu phụ. Thật là những chiến sĩ đầy tài năng và dũng cảm, khắc phục khó khăn để cải thiện bữa ăn của bộ đội trong vòng vây quân thù. Đội ngũ chị em cấp dưỡng đó là những ai, tôi rất tiếc và ân hận là không nhắc được tên nhiều chị một cách chính xác ngoài chị Chiến, người cao gầy nhưng rất khoẻ. Nhiều chị trước đây từ các gia đình nông thôn và thành phố đi giúp việc các gia đình, lúc nhà chủ chạy tản cư thì các chị ở lại, xung phong vào đội tiếp tế cho quân đội.

Những ngày đầu kháng chiến ở Hà Nội, 12-1946. (Ảnh tư liệu)

Đối với thương bệnh binh thì rất thiếu kháng sinh, nhiều anh chị em bị thương đã bị bệnh uốn ván. Riêng bốn chúng tôi, tôi cũng không hiểu vì sao là suốt 2 tháng trời sinh hoạt kham khổ nhưng không hề bị ốm đau ngày nào. Có lẽ vì ở tuổi 20, lòng tràn ngập niềm tin và hăng hái khiến mọi bệnh tật, nhức đầu, sổ mũi, ho hen ở chúng tôi đều bị đánh bật.

Tết Đinh Hợi năm đó, ngày 27-1-1947, Bác Hồ gửi bức thư nổi tiếng cho các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô: "Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu của tinh thần tự tin, tự lập của dân tộc ta, mấy nghìn năm để lại. Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi các em lời chào thân ái và quyết thắng". Đội tuyên truyền úy lạo chúng tôi được phân công đi đến nhiều ụ chiến đấu đọc bức thư của Bác cho anh em nghe, vừa đọc chúng tôi vừa khóc vì xúc động trước những tình cảm yêu thương và sự quan tâm của Bác.

Tết năm đó, đội nữ tiếp tế đã mang được một cành đào cho Ban Chỉ huy Trung đoàn và cam, trứng gà cho thương bệnh binh. Chúng tôi đến trạm xá mang quà và đọc thư Bác Hồ cho anh em nghe. Tôi còn nhớ có đồng chí bị uốn ván, lưng cứng đờ cứ yêu cầu chúng tôi phải dựng ngồi dậy, đỡ lưng để anh nghe thư của Bác một cách nghiêm chỉnh. Một lần nữa chúng tôi lại vừa đọc, vừa rưng rưng nước mắt vì thương anh em quá.Chiến đấu chiếm lại Viện Pasteur, 1947.(Ảnh tư liệu)Nhân dịp Tết, chẳng có quà gì cho bộ đội, chúng tôi nảy ra sáng kiến đi kiếm rubăng đỏ và vàng, tết thành nơ, đến các nơi gắn cho mỗi chiến sĩ một cái nơ vào ngực. Tôi còn nhớ, khi đến thăm một đơn vị ở phố Hàng Thiếc, ở đó vừa có một anh bị địch bắn chết, còn bó chiếu, chờ đến đêm đem sang vườn nhà Trí Tri ở phố Hàng Quạt (nay là trường tiểu học) để chôn. Các đồng chí trong đơn vị đề nghị chúng tôi gắn cho anh chiến sĩ tử trận đó một cái nơ đỏ. Thú thật là tôi run lắm, rất sợ vì từ nhỏ đâu có biết làm cái việc này. Nhưng rồi vì lòng thương cảm, vì trách nhiệm, tôi mở bó chiếu ra, gắn cho người chiến sĩ vô danh còn rất trẻ tuổi này một chiếc nơ đỏ vào ngực rồi bó chiếu lại. Tôi gọi là chiến sĩ vô danh vì không biết tên tuổi anh, và đến nay tôi cũng không nhớ tên đồng đội của anh. Liệu có ai biết anh chiến sĩ tử trận hôm đó tên là gì và liệu còn ai nhớ lại sự kiện gắn nơ đỏ cho anh không? Chắc chắn là không, nhưng tôi, tôi lại nhớ sự kiện này vì những ấn tượng sâu sắc đã để lại trong tâm trí tôi.Ụ kháng chiến ở Bạch Mai, Hà Nội, 1947. (Ảnh tư liệu)Đêm ngày 17-2-1947, Trung đoàn Thủ đô rút quân ra khỏi Hà Nội.Những ngày đầu tháng 2-1947, địch xiết chặt vòng vây, quyết tiêu diệt Trung đoàn Thủ đô, mở các trận tấn công ác liệt trên các mặt trận: Đông Thành, Hàng Thiếc, Hàng Bồ, Đồng Xuân. Ở bờ sông Hồng, chúng đánh chặn đường tiếp tế từ ngoài vào Liên khu I. Trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ, Bộ Tổng tham mưu có quyết định cho trung đoàn Thủ đô rút ra hậu phương mà không phải cố chiến đấu hy sinh đến người lính cuối cùng.Sáng này 17-2-1947, những đảng viên được phổ biến trước, với yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối. Tôi thắc mắc vì đã thề quyết tử giữ lấy Thủ đô lại lại rút lui, cảm thấy hổ thẹn, nhưng được giải thích là chiến lược trường kỳ kháng chiến của Chính phủ ta, bước đầu là giai đoạn cầm cự, cố bảo toàn lực lượng để sau chuẩn bị tấn công lại.Chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô vượt sông Hồng, rút khỏi Hà Nội, 17-2-1947.(Ảnh tư liệu)Trung đoàn Thủ đô đã kìm chân, chặn bước tiến của địch hai tháng trời, giúp cho các nơi khác chuẩn bị tốt hơn lực lượng chiến đấu. Nhiệm vụ được Đảng, Chính phủ giao phó, nay đã hoàn thành, cả Trung đoàn rút ra khỏi Hà Nội, đảm bảo quân số rút lui toàn vẹn, không bị hao tổn, sau đó sẽ bổ sung, củng cố lực lượng lại tiếp tục chiến đấu với địch.Chiều tối, toàn thể anh em của Trung đoàn được thông báo thu dọn chiến trường, chuẩn bị lên đường chiến đấu. Trung đoàn đã phân công cụ thể cho 3 tiểu đoàn: tiểu đoàn 1 đi đầu mở đường, tiểu đoàn 2 đi thứ hai bảo vệ, tiểu đoàn 3 đi cuối cùng có nhiệm vụ đối phó với khả năng địch biết đuổi theo đánh tiêu diệt ta. Trước khi rời các ụ chiến đấu, nhiều nơi anh em đã gây những đám cháy phá hoại để ngụy trang, làm địch không đoán được cuộc rút lui của ta.Đêm đó vào cuối tháng giêng ta, trời rất rét, mưa phùn nhỏ hạt, đêm tối mịt không trăng không sao, chúng tôi đi hàng một, người này nối đuôi người kia, rất yên lặng, trật tự, đi từ phố Hàng Bạc qua phố Hàng Muối đến Cột Đồng hồ thì phải ngừng lại vì có động (Ban Tuyên truyền chúng tôi đi cùng tiểu đoàn 1, đi đầu). Chúng tôi vội nằm rạp xuống đường, từ đó nhìn xa ra đã thấy cầu Long Biên, phía trên đầu có lính gác, còn đèn chiếu quay tỏa 4 phía để phát hiện động tĩnh. Lúc đó thật vô cùng hồi hộp, không hiểu rằng cả đoàn có đi lọt qua dưới gầm cầu, khi bọn chúng đang đứng gác ở trên cầu không?Rồi lại có lệnh khởi hành tiếp, chúng tôi hàng một chạy băng qua ngã tư Cột Đồng hồ, đi xuống bãi rau ven sông Hồng, từ đó rất thận trọng, đi rất khẽ dưới gầm cầu (vẫn theo bãi sông Hồng, mùa đông bãi rộng), rất khẽ nhưng lại phải cố đi nhanh, tránh vấp ngã, tránh gây tiếng động, làm địch nghi vấn rọi đèn xuống thì là thất bại. Nhưng có lẽ địch chủ quan, trời lại rét, tối nên đèn chúng vẫn quay, vẫn chiếu sáng mà chúng tôi vẫn đi lọt cả Trung đoàn 1.200 người.Chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô vượt sông Hồng, rút khỏi Hà Nội, sáng 18-2-1947. (Ảnh tư liệu)Đi hết quãng gầm cầu nguy hiểm thì chúng tôi lội sông qua bãi giữa sông Hồng. Vì mùa đông, sông cạn nên chỉ lội đến ngang lưng là tới bến giữa. Bãi trồng đầy mía, sắn, chúng tôi lạc nhau lung tung, phải gọi nhau í ới mới tìm ra đường đi tới chỗ có bến đò. Hàng loạt đò đã chờ sẵn đưa chúng tôi sang bên kia sông, đó là vùng của ta rồi. Nhưng vì đò nhỏ, ít, nên chờ cũng lâu, tuy đoàn tôi đi vào tốp đầu mà tôi nhớ gần sáng mới sang đến bên kia sông. Một hình ảnh tôi không bào giờ quên là đứng nhìn về phía Hà Nội mù mịt, bao giờ mình lại trở về Hà Nội? Hà Nội mến yêu, nơi tôi sinh ra và lớn lên, tôi đã phải rời bỏ Hà Nội để Pháp chiếm giữ, mà không làm tròn được lời hứa của mình.Chúng tôi rất mệt, sang đến bờ sông bên này tưởng được nghỉ, nhưng lập tức có lệnh phải lên đường ngay vì bọn Pháp đã phát hiện ra cuộc rút lui của ta và đang đuổi theo, những đơn vị cuối cùng đang chặn bước tiến của chúng. Chúng tôi đi tiếp, người mệt, đói, lúc nào dừng lại vài phút là ngủ đứng, khi có lệnh đi tiếp, người đi trước bước làm người sau ngã bừng dậy. Đi mãi chúng tôi mới tới nơi nghỉ, tới một làng tôi không nhớ tên. Đồng bào tiếp đón ân cần, nấu cơm, mổ lợn cho chúng tôi ăn, nhưng mấy chị em nữ thì quá mệt, chỉ lăn ra ngủ. Đồng bào nhiều người không tin chúng tôi có thể đi dưới gầm cầu Long Biên, mà chúng tôi cho rằng có lẽ chúng tôi chui qua các cống ngầm nào đó để rút lui. Mọi người ca ngợi lòng dũng cảm của Trung đoàn Thủ đô, còn lại tôi chờ những lời trách cứ.Rồi đến buổi lễ mừng công ở làng Thượng Hội, Chương Mỹ, Hà Tây (trước đây). Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm, tuyên dương cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô, chúng tôi thật cảm động. Nhưng sau đó, do chủ trương không thể để phụ nữ trong quân ngũ, trừ một vài chị làm y tá, còn hơn 100 người (quân số phụ nữ lúc đó vào khoảng ấy) được lệnh tách khỏi quân đội đi lên Phú Thọ vào một trại để tăng gia sản xuất. Chị Tuyết Minh, tôi và một vài đảng viên khác được phân công vào Ban lãnh đạo của “tiểu đoàn nữ” này. Tôi nhớ lại cầm lá cờ đỏ sao vàng, đội mũ tai bèo (không nhớ ai cho), mặc áo bộ đội, quần đen dẫn đầu đoàn chị em đi bộ từ Hà Đông, Sơn Tây lên Phú Thọ, đến huyện Thanh Ba, vào đồn điền chủ chè. Đó là nơi có rất nhiều đồi chè nhưng chúng tôi được giao một mảnh đất nhỏ để nhổ cỏ và cuốc lên trồng sắn.Chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô tập trung tại làng Thượng Hội, 22-2-1947.(Ảnh tư liệu)Đến đây, cuộc đời hoạt động Hà Nội của tôi tạm ngừng lại. Cuộc sống của cô thôn nữ sinh ra ở Hà Nội cũng bắt đầu thay đổi để hòa nhập vào đồng ruộng, cây cỏ, tập làm một cô nông dân và đi vận động phụ nữ nông dân.60 ngày đêm chiến đấu ở Hà Nội thật ngắn ngủi nhưng đầy sự kiện. Thế hệ chúng tôi, những người con trai, con gái đã đi vào cuộc chiến đấu hồn nhiên, vui vẻ, không hổ thẹn là những người con của Thủ đô, người dân của đất Tràng An ngàn năm văn vật. Đến nay, bầu trời Hà Nội vẫn trong vắt, nước Hồ Gươm vẫn xanh biếc như mùa thu cách mạng năm xưa

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn