Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đối phó chiến tranh phá hoại và phong tỏa thủy lôi năm 1972

Khi Mỹ mở rộng đánh phá miền Bắc và rải thủy lôi phong tỏa cảng biển năm 1972, lực lượng công binh ba thứ quân được khẩn trương củng cố, phát triển mạnh nhiệm vụ phá bom mìn, bảo đảm giao thông. Phối hợp với hải quân, giao thông vận tải và các cơ quan kỹ thuật, công binh đã nghiên cứu, rà phá hiệu quả thủy lôi, mìn từ trường, nhanh chóng khôi phục các luồng cảng trọng yếu, giữ vững mạch máu vận tải chi viện chiến trường.

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường miền Nam, nhằm hỗ trợ tinh thần cho ngụy quân, ngụy quyền, chà đạp lên dư luận tiến bộ trên thế giới, đế quốc Mỹ tiếp tục cho máy bay đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, tàn bạo hơn. Những ngày đầu tháng 4 năm 1972, chúng đánh phá Quảng Bình, Vĩnh Linh - khu vực hậu phương chiến dịch của ta. Ngày 10 tháng 4, máy bay B52 rải thảm thành phố Vinh; ba ngày sau, chúng đánh Thọ Xuân (Thanh Hóa) và ngày 16 tháng 4 đánh Hải Phòng.

Bộ Tư lệnh Công binh đã kịp thời triển khai kế hoạch mới theo sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Nhằm đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại mới của địch, lực lượng công binh trong ba thứ quân được gấp rút khôi phục và phát triển, đặc biệt là các đơn vị phá bom, mìn. Ngoài lực lượng tại chỗ do dân quân, tự vệ đảm nhiệm, mỗi huyện tổ chức một trung đội phá bom, mỗi tỉnh có một trung đội hoặc một đại đội công binh cơ động. Huyện đội có trợ lý công binh, tỉnh đội có ban công binh được biên chế từ 6 đến 8 cán bộ. Các tỉnh, thành phố lập các ban đảm bảo giao thông. Ở Quân khu 4, cơ quan tiền phương Tổng Cục Hậu cần được thành lập. Trên địa bàn quân khu có 13 tiểu đoàn đảm bảo giao thông và 6 đại đội công binh vượt sông.

Quân khu Hữu Ngạn thành lập thêm 2 đại đội vượt sông thuộc Tiểu đoàn 27 và 3 tiểu đoàn công binh đảm bảo giao thông. Quân khu Tả Ngạn tổ chức thêm 1 tiểu đoàn công binh 23.

Một sự kiện ác liệt mà bọn Mỹ đã làm trong thời gian này là ngày 9 tháng 5 năm 1972 đế quốc Mỹ ném 1.435 quả thủy lôi phong tỏa các vùng ven biển miền Bắc. Tiếp đến ngày 29 tháng 5, chúng ném bom mìn từ trường phong tỏa các tuyến đường vận tải, đường sông nội địa các tỉnh thuộc Quân khu 4. Chúng còn sử dụng bom có đầu nổ la-ze đánh trúng nhiều cầu trên đường bộ, đường sắt. Đường sắt Thanh Hóa - Vinh là đường số 1 hầu như bị tê liệt. Rà phá thủy lôi bom mìn địch, đảm bảo giao thông trở thành nhiệm vụ cấp thiết trước mắt.

Các đoàn tàu, các trung đoàn hải quân đều tổ chức tiểu đoàn, đại đội công binh. Cục Vận tải đường biển, đường sông, Công ty bảo đảm Hàng hải, các địa phương có bờ biển và cửa sông đều thành lập các đơn vị công binh rà phá bom mìn, thủy lôi.

Rà phá thủy lôi, mìn từ trường dưới biển là công việc mới mẻ, phức tạp. Bộ Tư lệnh Công binh đã phối hợp với Cục nghiên cứu Kỹ thuật quân sự (Bộ Quốc phòng), Bộ Tư lệnh Hải quân và các cơ quan nghiên cứu của Nhà nước cùng hỗ trợ nghiên cứu vấn đề này. Đồng thời, các tỉnh đội phối hợp hành động giữa các lực lượng chống địch phong tỏa đường biển, đường sông. Bộ Giao thông Vận tải sản xuất tàu phóng từ điều khiển từ xa. Cục Đường biển nghiên cứu dùng máy phát sóng siêu âm để dò thủy lôi. Các biện pháp đơn giản như câu rà, lặn xuống để thuôn, kéo tôn thép trên sông... đều được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả. Chỉ trong một thời gian ngắn, số luồng ra vào cảng đã được quét sạch thủy lôi, mìn từ trường. Các luồng Nam Triệu, Quả Xoài, cảng Hải Phòng tiếp tục hoạt động.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn