Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Đôi xuyến vàng và bộ từ điển 40.000 từ của Đào Duy Anh

Ở tuổi 26, Đào Duy Anh cùng người vợ Trần Thị Như Mân dành hai năm biên soạn bộ Hán–Việt từ điển gồm khoảng 5.000 từ đơn và 40.000 từ ghép. Không đủ tiền in sách, gia đình phải cầm một đôi xuyến vàng và kêu gọi bạn đọc đặt mua trước.

Vĩnh Long22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một ngày đầu thập niên 1930, trong căn nhà nhỏ tại Huế, bà Trần Thị Như Mân tháo đôi xuyến vàng rồi đem cầm lấy tiền.

Đó không phải là món trang sức duy nhất gia đình còn lại, nhưng là thứ có thể giúp họ mua giấy và trả trước một phần chi phí nhà in. Nếu không có khoản tiền ấy, hàng vạn tấm phiếu ghi từ ngữ mà hai vợ chồng đã miệt mài sắp xếp suốt nhiều tháng có thể vẫn chỉ là một chồng bản thảo.

Công trình họ chuẩn bị in là bộ Hán–Việt từ điển.

Tác giả chính, Đào Duy Anh, khi ấy mới khoảng 26 tuổi.

Bộ sách sau khi hoàn thành chứa khoảng 5.000 từ đơn và 40.000 từ ghép, trở thành một trong những công trình từ điển học quan trọng nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX.

Đào Duy Anh sinh ngày 25 tháng 5 năm 1904 tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Dòng họ ông vốn ở làng Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, Hà Đông, nay thuộc thành phố Hà Nội, nhưng chuyển vào Thanh Hóa từ đời ông nội.

Gia đình theo nền nếp Nho học nhưng không giàu có. Nhờ thông minh và chăm chỉ, Đào Duy Anh tiếp tục được học hành trong thời điểm nền giáo dục cũ và mới đang cùng tồn tại.

Năm 1923, ông tốt nghiệp bằng Thành chung tại Trường Quốc học Huế. Với trình độ ấy, ông có thể tìm một vị trí trong bộ máy công chức thuộc địa. Tuy nhiên, Đào Duy Anh không muốn phục vụ chính quyền thực dân nên chọn làm giáo viên tại Trường Tiểu học Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Cuối năm 1925, ông có mặt trong buổi đón nhà yêu nước Phan Bội Châu đi qua Đồng Hới. Cuộc gặp góp phần thúc đẩy người giáo viên trẻ dấn sâu hơn vào các hoạt động yêu nước.

Năm 1926, Đào Duy Anh thôi dạy học, vào Quảng Nam gặp cụ Huỳnh Thúc Kháng. Khi Huỳnh Thúc Kháng sáng lập báo Tiếng Dân, ông trở thành thư ký tòa soạn.

Tại đây, Đào Duy Anh được tiếp xúc trực tiếp với công việc báo chí, biên tập và phổ biến kiến thức. Ông nhận ra một trở ngại lớn: nhiều khái niệm mới về khoa học, kinh tế, chính trị và xã hội đã xuất hiện, nhưng người đọc Việt Nam không có một công cụ đầy đủ để hiểu chúng.

Lớp người từng học chữ Hán sử dụng một hệ thống từ ngữ khác với lớp thanh niên được đào tạo bằng tiếng Pháp. Hai thế hệ đôi khi nói cùng một vấn đề nhưng không hiểu chính xác ý của nhau.

Năm 1928, Đào Duy Anh xây dựng Quan Hải tùng thư, chuyên biên soạn và xuất bản những cuốn sách phổ biến tư tưởng, khoa học và kiến thức xã hội. Cuối mỗi cuốn sách thường phải dành vài trang để giải thích các từ Hán Việt khó.

Bà Trần Thị Như Mân, người cùng ông hoạt động trong Tân Việt Cách mạng Đảng, nhận thấy sự bất tiện ấy.

Tháng 7 năm 1929, cả Đào Duy Anh và Trần Thị Như Mân đều bị chính quyền thực dân bắt. Giữa năm 1930, sau khi ra tù, hai người tổ chức một đám cưới giản dị rồi mở cửa hàng tại Huế để sinh sống.

Khi đọc lại những cuốn sách của Quan Hải tùng thư, bà Như Mân đề nghị chồng tập hợp các từ khó thành một cuốn từ điển riêng. Người đọc khi gặp một từ Hán Việt chưa hiểu có thể mở sách tra cứu, thay vì phải tìm phần giải thích nằm rải rác ở nhiều nơi.

Đào Duy Anh nhận ra đây là một ý tưởng có giá trị. Một cuốn từ điển có hình thức thuần túy học thuật cũng có khả năng vượt qua sự kiểm duyệt gắt gao vốn áp dụng với sách chính trị.

Hai vợ chồng bắt tay vào công việc.

Như Mân đọc lại Nam Phong toàn tập, các sách quốc văn quan trọng và những tác phẩm cổ điển như Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm. Mỗi khi gặp một từ Hán Việt cần đưa vào từ điển, bà ghi từ ấy lên một tấm phiếu.

Những tấm phiếu được xếp theo thứ tự bảng chữ cái Latin rồi chuyển cho Đào Duy Anh xem xét. Ông bổ sung từ, đối chiếu tài liệu và viết phần giải nghĩa.

Để có đủ nguồn tham khảo, ông gửi thư cho bạn bè cùng các nhà sách ở Hà Nội, Sài Gòn, nhờ tìm mua những bộ từ điển Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải, Khang Hy từ điển và nhiều công trình cổ, kim khác.

Công việc được tổ chức như một xưởng biên soạn nhỏ trong gia đình.

Ban ngày, Như Mân trông coi cửa hàng. Đến chín giờ tối, sau khi đóng cửa, bà mới bắt đầu sắp xếp và chép phiếu, thường làm việc tới khoảng mười một giờ. Đào Duy Anh ngoài thời gian dạy tại Trường tư thục Phú Xuân thì trở về nhà viết tiếp phần giải nghĩa.

Ông tự đặt kỷ luật mỗi ngày phải hoàn thành một số lượng chữ nhất định mới được nghỉ.

Chữ viết của Đào Duy Anh rất khó đọc. Người ngoài đôi khi phải để trống cả đoạn vì không thể nhận ra ông viết gì. Chỉ có Như Mân đã quen nét chữ của chồng mới có thể đọc, chép lại và điền đầy đủ những phần còn thiếu.

Mỗi khi hoàn thành một tập bản thảo, các em của Đào Duy Anh lại đạp xe đưa lên Bến Ngự, nhờ cụ Phan Bội Châu xem và hiệu đính. Trong từ điển sau này, Phan Bội Châu được ghi bằng hiệu Hãn Mạn tử.

Sau nhiều tháng làm việc, quyển Thượng, gồm các mục từ từ A đến M, đã sẵn sàng. Nhưng gia đình lại gặp một bài toán khác: không có tiền in.

Đào Duy Anh nhờ Phan Bội Châu viết lời đề từ rồi đăng báo giới thiệu cuốn sách, kêu gọi độc giả đặt mua trước với giá một đồng mỗi bộ. Tiền của người đặt trước sẽ được dùng để mua giấy và trả cho nhà in.

Trong khi chờ đợi, Như Mân viết thư hỏi vay y sĩ Trần Đình Nam 100 đồng. Bà còn mượn người chị một đôi xuyến vàng, đem cầm để có thêm khoản tiền ứng trước.

Nhờ số tiền ấy, quyển Thượng được in tại nhà in báo Tiếng Dân ở Huế. Khi sách phát hành và bắt đầu có người mua, gia đình mới có kinh phí tiếp tục làm quyển Hạ, gồm những chữ từ N đến X.

Phần sau được chuyển ra một nhà in tại Hà Nội vì ở đó có nhiều con chữ Hán hơn và kỹ thuật sắp chữ tốt hơn.

Khoảng cách Huế – Hà Nội khiến việc sửa bản in trở thành một cuộc chạy đua hằng ngày. Nhà in sắp chữ rồi gửi bản dập thử từ Hà Nội vào Huế bằng tàu tốc hành. Mỗi khi tàu đến, người của gia đình chờ sẵn tại bưu điện nhận bản in thử.

Hai vợ chồng tập trung chữa lỗi cả ngày lẫn đêm. Sáng hôm sau, bản sửa phải được gửi trở lại Hà Nội theo chuyến tàu tiếp theo để nhà in không bị gián đoạn.

Cứ như vậy, sau khoảng hai năm, bộ Hán–Việt từ điển được hoàn thành và xuất bản lần đầu năm 1932.

Công trình chứa khoảng 5.000 từ đơn và 40.000 từ ghép. Không chỉ giải nghĩa những từ thường gặp trong văn học cổ, bộ sách còn giới thiệu nhiều khái niệm mới về kinh tế, khoa học, xã hội và triết học.

Cuốn từ điển trở thành chiếc cầu nối giữa lớp người quen học chữ Hán với lớp thanh niên đang tiếp cận kiến thức phương Tây. Nhiều thuật ngữ từ đó được hiểu và sử dụng thống nhất hơn trong tiếng Việt hiện đại.

Sau công trình này, Đào Duy Anh tiếp tục biên soạn Pháp–Việt từ điển, xuất bản năm 1936. Ông dần chuyển sang nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn hóa và văn học với những tác phẩm như Việt Nam văn hóa sử cương, Lịch sử cổ đại Việt Nam, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIXĐất nước Việt Nam qua các đời.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được mời giảng dạy lịch sử tại Đại học Văn khoa Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tại Liên khu IV, sau đó làm Trưởng ban Sử – Địa thuộc Bộ Giáo dục ở Việt Bắc.

Sau năm 1954, Đào Duy Anh tiếp tục giảng dạy và nghiên cứu tại Hà Nội. Ông tham gia hiệu đính, biên dịch nhiều bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Phủ biên tạp lụcGia Định thành thông chí.

Ông qua đời ngày 1 tháng 4 năm 1988. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Nhưng trước khi trở thành một học giả lớn, Đào Duy Anh từng là chàng trai 26 tuổi ngồi bên hàng vạn tấm phiếu nhỏ, làm việc đêm này qua đêm khác cùng người vợ của mình.

Bộ từ điển ấy không được tạo ra trong một viện nghiên cứu có kinh phí dồi dào. Nó bắt đầu từ câu hỏi của một người đọc, được viết trong căn nhà kiêm cửa hàng nhỏ và được in bằng tiền đặt trước của bạn đọc, một khoản vay 100 đồng cùng đôi xuyến vàng đem cầm.

Đôi xuyến rồi có thể được chuộc lại. Nhưng những từ ngữ được hai vợ chồng tập hợp đã ở lại trong tiếng Việt, tiếp tục được các thế hệ sau sử dụng để đọc sách, học tập và hiểu lịch sử dân tộc mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn