Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐÓN NHÀ THƠ TỐ HỮU TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Sinh năm: 1941 Quê quán: Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ, Thái Bình Thường trú: 459 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 4 năm 1965 Điện thoại: 04.38542368 - 0912.441021 Nguyên Trợ lý Kỹ thuật Ban Công binh Trung đoàn 98, Thương uý Trợ lý phòng Kế hoạch, Cục Tham mưu Công binh 559, Nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tối ngày 11 tháng 12 năm 2002, một số cựu chiến binh Binh trạm 12, Bộ đội Trường Sơn đang quây quần tại nhà bác Việt Phương, nguyên Chính uỷ Binh trạm 12, xem quyển sách "Vượt Cha Lo" của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành còn thơm mùi mực. Mọi người nhận ra bác Tố Hữu trong tấm ảnh chụp với đoàn cựu chiến binh Binh trạm 12 tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9. Cùng lúc đó đài Truyền hình Việt Nam đưa tin: “Đồng chí Tố Hữu đã qua đời...”


Tất cả chúng tôi đều lặng đi, mỗi người như đang nhớ về những kỷ niệm xưa với bác Tố Hữu.

Tôi không thể nào quên những ngày giữa tháng 5 năm 1973, khi Trung đoàn 98, Bộ đội Trường Sơn đang tập trung mở đoạn Trao đi Bến Giàng, một đoạn trên “Đường 14 xây đựng cơ bản” trong không khí thi đua sôi nổi hướng tới kỷ niệm ngày 19 tháng 5.


Tôi 10 tháng 5 năm 1973 tại chỉ huy sở Trung đoàn ở Trao, đồng chí Tô Đa Mạn, Trung đoàn trưởng gọi tôi lên giao nhiệm vụ:

- Tôi giao cho đồng chí trong 7 ngày phải làm xong 4 nhà tại vị trí X...

Chỉ vào tấm bản đồ tỷ lệ 1/100.000, Trung đoàn trưởng nhẹ nhàng:

- Yêu cầu "trên kín dưới quang" - Rồi ông cười nói tiếp:

- Nhưng phải đảm bảo đẹp, mỹ thuật, phù hợp với cảnh quan chiến trường. Có yêu cầu gì cứ đề đạt.

Tôi đã quen cách giao nhiệm vụ quân sự như thế, nên cũng không đám hỏi làm cho ai ở, cấp nào sẽ đến rồi thận trọng trả lời:

- Báo cáo thủ trưởng, tôi sẽ cố gắng, nhưng thủ trưởng cho tôi đủ quân và dụng cụ thi công.

- Tất nhiên sẽ đáp ứng. Cần triển khai ngay!

Ông trả lời rồi bắt tay tiễn tôi về.

Ngay đêm ấy, tôi suy nghĩ thiết kế mẫu nhà, phác thảo, tính toán vật liệu cho một nhà mẫu, khuya lắm mới xong. Sáng sớm hôm sau tôi cùng tổ trinh sát đi chọn vị trí cắm mốc cho từng nhà, rồi san nền ngay. Đây là dãy đồi nằm về phía Tây sông A Vương, cách Trung đoàn bộ khoảng 300 mét. Mỗi dãy dựng hai nhà nằm hai bên con suối cạn nước trong mát, chảy róc rách thơ mộng. Nhà đều dựa lưng vào sườn đồi, cửa trông về hướng Nam, có rừng cây che khuất.


Một bộ phận của Đại đội 10, Đại đội 11 đi gần cây số chặt tre nứa, vì quanh khu nhà khách không được chặt cây nào nhằm giữ bí mật. Một bộ phận khác thi công, ba ngày sau các nhà được lắp dựng xong. Tôi và anh em khéo tay cố ý trau chuốt, tỉa tót trang trí các cửa sổ, cửa đi. Chỉ bằng vật liệu tre, nứa, song mây, chỗ thì đan, cài theo kiểu hoa thị, chỗ thì tạo hoa văn theo hình quả trám, hình vuông như hoa văn dân tộc. Các bậc tam cấp làm thấp có cọc tre giữ đất. Tay vịn lan can chọn cây tre nhỏ và đều, trau chuốt tỷ mỉ, nhiều đoạn cũng được trang trí hoa văn.


Hai dãy nhà qua lại với nhau bằng chiếc cầu tre nhỏ, bắc qua suối cạn có tạo dáng vòng cong, được chúng tôi đặt tên cầu “Thê Húc Trường Sơn". Từ tay vịn đến trụ, lan can đều trang trí hoa văn, mới trông có vẻ cầu kỳ nhưng lại rất thanh thoát giản đơn, đẹp mắt. Trong mỗi nhà mắc một chiếc võng vi ni lông, một sạp nằm dát bằng toe luồng chẻ nhỏ, ken dầy nằm rất êm. Nửa gian nhà phía bên trái một bộ bàn ghế bằng tre chân chôn xuống nền đất vừa làm bàn ăn, vừa là bàn làm việc. Một căn hầm đủ cho 3 đến 4 người ở. Một bóng điện 40 watts đã phủ "phòng không". Mỗi nhà có mắc điện thoại Liên Xô, liên lạc với Trung đoàn trưởng và Chính uỷ. Để trang trí đẹp mắt, tôi bí mật tuyển chọn và mượn các phòng, ban những giỏ phong lan, nhiều chủng loại mang đến treo ở lan can, ở cửa ra vào, đặc biệt là dọc lan can trên cầu “Thê Húc”. Các giỏ hoa phong lan nhiều chủng loại tươi thắm, khoe sắc vàng, phớt hồng hay màu trắng, tươi mát nổi bật giữa màu xanh của cây rừng...


Đến ngày thứ 6 công trình đã xong toàn bộ. Chính uỷ Nguyễn Sĩ Chỉa, Trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn và đồng chí Phong, Ban Tuyên huấn, bác sĩ Tuấn ở Bệnh xá đi kiểm tra. Các thủ trướng xem rất kỹ rồi kết luận:

- Công trình đạt yêu cầu, cần bổ sung một số điểm...

Hôm sau chúng tôi tiếp tục hoàn thiện theo góp ý bổ sung và tổ chức canh phòng tuần tra cân mật. Mấy chú vệ binh bàn tán:

- Ông Phúc chỉ vẽ vời, các “cụ Trung đoàn" đến ở thì có gì phải tính kỹ thế!

Tôi đứng gần đó nghe thấy chỉ mỉm cười.

- Thì các thủ trưởng chứ ai vào đây!

Thực tình đến giờ phút ây, tôi cũng chưa biết sẽ đón đoàn khách nào!

Về hướng sông Bung, gần một tuần nay Trung đoàn đã lệnh cho Tiểu đoàn do đồng chí Nguyễn Xuân Thu, Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Điềng, Chính trị viên Tiểu đoàn mở gấp đường giao liên dài 5 ki lô mét, rộng từ 1 đến 1,5 mét, hai người đi ngược chiều có thể tránh nhau được. Nhiều đoạn rất dốc phải cuốc thành bậc thang có làm lan can tay vịn, có vài chỗ đốc đứng chân người đi trước ngang đầu người đi sau. Riêng đoạn lên xuống cách hai bờ sông 500 mét và bến thuyền dã chiến tại sông Bung chỉ được làm vào chiều ngày N - 11 (N-1 nghĩa là trước ngày sử dụng 1 ngày) nhằm giữ bí mật tuyệt đối.


Lực lượng bảo vệ đã bí mật ém sẵn từ trước, hệ thống phòng không 12 ly 7, đường dây thông tin đã vào trực chiến cấp 1, nhiệm vụ này do đồng chí Đoàn Ngọc Lập, Tham mưu trưởng Trung đoàn chỉ huy.


Đúng đêm 17 tháng 5 năm 1973, đoàn cán bộ Trung đoàn đi đón khách do Trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn dẫn đầu đã lặng lẽ đên vị trí tập kết. Đêm cuối tháng, ánh trăng vàng đã ngả về tây soi sáng rừng Trường Sơn yên ả. Xa xa có tiếng gà gáy trong bản lẫn với tiếng chim kêu "khó khăn khắc phục" vọng lại. Mọi người căng mắt nhìn về hạ lưu sông Bung... đứng chờ đợi, muỗi, dĩn vùng này nhiều vô kể!


Trên bầu trời vọng lại tiếng máy bay ầm ì, nhấp nháy đèn đỏ lao về hướng Đà Nẵng. Rồi những chiếc thuyền nhỏ đã lần lượt xuất hiện với tiếng mái chèo khoả nước nhẹ nhàng. Trung đoàn trưởng bấm đèn pin nhấp nháy ánh sáng lọt qua “lỗ phòng không” chỉ bằng đồng xu nhỏ hướng về đoàn thuyền, ánh đèn pin trên thuyền đi đầu đáp lại. Nhận đúng tín hiệu, từng chiếc thuyền cập bến, những cái bắt tay chào hỏi đủ nghe nhưng không kém phần nhiệt tình mến khách.


Bộ phận giao liên Quân khu 5 bàn giao đoàn khách cho Trung đoàn 98 lại xuôi dòng về Hiên, trông rõ trên thuyền xếp những tay lưới đánh cá.

Đi bộ theo đoạn đường giao liên 5 ki lô mét nữa thì đoàn khách được mời lên hai chiếc xe Gatz 69 đợi sẵn ở cửa rừng rồi thẳng tiến về Trao. Chính uỷ Nguyễn Sỹ Chia và một số cán bộ, chiến sĩ phục vụ chờ sẵn và hướng dẫn đoàn vào nhà khách.

Khách mặc trang phục giống nhau: quần áo mầu tro, mũ tai bèo, một số người vai đeo cái bòng nhỏ. Tôi nhận ra thủ trưởng Đinh Đức Thiện người đậm đà, cao to, đi lại đĩnh đạc. Một người khác hơi đậm, cao vừa phải, sau này tôi mới biết là bác Nguyễn Thọ Chân, Bộ trưởng Bộ Lao động. Trung đoàn trưởng đi cùng một người khách tầm thước vừa phải, tay cầm máy ảnh vừa đi vừa hỏi thăm mọi người. Khi đến căn nhà trước mặt, Trung đoàn trưởng nói:

- Báo cáo anh, đây là nơi nghỉ của anh.

- Nhà đẹp hỉ!...

Khách đến ngắm giò phong lan treo trước cửa có bông hoa còn tươi lại thoang thoảng mùi thơm:

- Đến đây mình lại nhớ ATK1 (ATK: an toàn khu) Việt Bắc, nhưng Việt Bắc không có nhiều hoa phong lan đẹp thế ni!...

Chính uỷ tiếp lời:

- Chúng tôi xin tặng anh đem về Hà Nội.

Mọi người cùng cười vui vẻ. Anh Phong cán bộ tuyên huấn ghé tai tôi nói nhỏ:

- Bác Lành khen công trình của anh đây!

- Bác Lành, Nhà thơ Tố Hữu!... Tôi thầm kêu lên.

Đến hôm nay tôi mới được gặp lần đầu tiên, nhà thơ lớn được mọi người hâm mộ khác xa với những hình ảnh đã đăng trên sách báo. Trước đây tôi đã đọc nhiều thơ của bác. Bây giờ bác Tố Hữu là Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đi thăm chiến trường miền Nam, nên tôi càng thầm hiểu công tác đón tiếp quan trọng như thế nào.


Sau này trong bài thơ "Nước non ngàn dặm" của bác Tố Hữu có đoạn:

... Tới đây tre nứa là nhà
Giò phong lan nở nhành hoa nhị vàng
Trưa nằm đưa võng thoảng sang
Một làn hương mỏng, mênh mang nghĩa tình...


Tôi cứ liên tưởng như bác Tố Hữu viết về Trường Sơn khi bác dừng chân ở Trung đoàn 98 và nghỉ trong căn nhà tre nứa ngày ấy ở Trao mà tôi đã góp phần xây dựng.

Tối ngày 19 tháng 5 năm 1973, tại hội trường của Trung đoàn, bác Lành nói chuyện với cơ quan Trung đoàn bộ, cán bộ từ trợ lý trở lên. Bác nói về thời cơ lớn của Cách mạng miền Nam, về làm ăn theo kiểu quản lý kinh tế và khoa học kỹ thuật hiện đại, sau cùng bác nói chuyện về thơ. Chúng tôi đề nghị bác ngâm thơ.

- Mình chỉ đọc chứ không ngâm được thơ.

Với giọng trầm trầm xứ Huế, bác say sưa đọc cho chúng tôi nghe bài thơ "Đường vào". Chúng tôi rât thích đoạn:

... Đường ta đi đẹp vô cùng
Ngàn năm luyện bước Anh hùng đây chăng?
Đường vui không đợi mùa trăng
Ta đi làm ánh sao băng giữa đời!


Bác Lành vừa ngừng lời, y sĩ Nguyễn Thị Son quê Hà Tĩnh, cô Hoà, thanh niên xung phong Hà Tây vồn vã chạy lên tặng bác những bó hoa tươi thắm đậm ngát hương rừng. Mọi người đang im lặng, bỗng lại vỗ tay rầm rầm làm rung động cả hội trường.


Bác Lành lại đọc tặng chúng tôi một bài thơ nữa, đọc xong bác nói:

- Bài thơ mình “nhẩm” trên đường đi công tác lần này, chưa kịp sửa, tạm lấy đề mục "Việt Nam máu và hoa”!

Ôi! quả thực là một nhà thơ lớn, nhà thơ cách mạng có tâm hồn. Tôi tâm đắc nhớ kỹ hai câu:

... Sài Còn ơi, Huế ơi xin đợi
Tái hợp huy hoàng cả nước non.


Hôm sau ngày 20 tháng 5 năm 1973, mãi đến 9 giờ, đoàn khách mới lên đường.

Vì chủ khách còn quá lưu luyến và cũng vì đêm hôm qua mưa thượng nguồn đổ về, còn phải chờ nước ngầm A Vương 2 rút bớt.

Tháng 3 năm 2000, đoàn cựu chiến binh Binh trạm 12 đi thăm chiến trường xưa được gặp bác Tố Hữu và chị Thanh, phu nhân của bác tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9. Tôi xin phép được nhắc lại kỷ niệm tháng 5 năm 1973 ở Trường Sơn và nói:

- Chúng cháu đọc thơ của bác, vẫn nhớ đêm đón bác khi bác ngồi thuyền trên sông Bung. Rồi tôi đọc:

... Non cao rực rỡ ánh vàng
Đêm rằm vằng vặc Bến Giàng trăng lên
Con thuyền rời bến sang Hiên
Xuôi dòng sông Cái, ngược triền sông Bung...


Bác Tố Hữu cười nhẹ:

Ừ! Thế mà đã 27 năm rồi đó! Tôi chỉ viết lại, người viết giỏi lắm cũng chỉ nói được một phần sự thực mà thôi!

Mọi người lại cùng cười vui...

Không thể ngờ, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi được gặp bác Lành, nhà thơ lớn Tố Hữu!

Những người lính Trường Sơn mãi mãi nhớ ơn và tư hào về những khổ thơ của bác Tố Hữu được ghi tại văn bia Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.

Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang
Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng
Trường Sơn, vượt núi, băng sông
Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa
Trường Sơn, Đông nắng, Tây mưa
Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình


Tôi viết những dòng này xin được coi như những nén hương thơm kính dâng, tưởng nhớ hương hồn bác Tố Hữu an nghỉ ở cõi vĩnh hằng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn