Dòng cảm xúc trong những ngày lửa đạn
Trung tuần tháng 10-2013, Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng nhận được những trang nhật ký bằng thơ của một CCB ở tuổi ngoại lục tuần...
Trung tuần tháng 10-2013, Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng nhận được những trang nhật ký bằng thơ của một CCB ở tuổi ngoại lục tuần. Đó là những dòng tâm sự mà CCB Nguyễn Chí Thái từng gieo vần ở trận địa phòng không, là những bài thơ mộc mạc được người lính vận tải viết vội trên các cung đường Trường Sơn…
Tìm gặp tác giả với mong muốn được nghe “chú giải” thêm về những trang “nhật ký thơ” viết trong chiến tranh, chúng tôi được nghe CCB Lê Sỹ Thọ, người cùng đơn vị với CCB Nguyễn Chí Thái, kể lại: “Năm 1965, anh Thái nhập ngũ vào Trung đoàn 238, khi đó tôi là khẩu đội trưởng, còn Thái ở vị trí pháo thủ số 2. Ngay từ ngày ấy, anh em đơn vị đã được nghe những vần thơ anh viết trong những lúc rảnh rỗi bên mâm pháo”.
Sau này, Nguyễn Chí Thái có hai năm cùng đồng đội chiến đấu ở các trận địa phòng không: Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Bắc… Mỗi miền quê lại in đậm trong ông những dấu ấn khó quên, và sâu sắc nhất vẫn là kỷ niệm với những người bạn gái. “Tôi có người bạn gái đầu tiên là Nguyễn Thị Thanh Lộc ở thành phố Thái Nguyên. Thời điểm năm 1966, tuy cùng tuổi với tôi nhưng Lộc đã trở thành Trung đội trưởng trung đội dân quân phụ trách 4 khẩu pháo 12,7mm ở ga Đồng Quang”, ông Thái kể lại.
|
CCB Nguyễn Chí Thái và kỷ vật “Tiền Trường Sơn” do ông lưu giữ. |
Ngày đó, do đơn vị đóng quân ở gần nhà bạn gái nên hai người đã sớm cảm mến nhau. “Có lần, vào dịp nghỉ phép, tôi đã tranh thủ đón xe khách từ Thái Nguyên về Hà Nội, rồi lấy xe đạp của gia đình đạp trở lại Thái Nguyên cùng một ông chú và người anh rể. Chuyến đi ấy, chúng tôi đã xin phép gia đình đưa người bạn gái về Hà Nội chơi. Lần ra mắt này, bố mẹ tôi không chê Lộc một điểm gì, bởi tuy bằng tuổi tôi nhưng Lộc đã sớm được kết nạp Đảng, hai cụ chỉ không đồng ý cho tôi lấy vợ xa”. Sau 6 lần đi-về trên chặng đường hơn 70km từ Hà Nội-Thái Nguyên bằng xe đạp, mối tình đầu tiên của chàng lính trẻ với cô Trung đội trưởng dân quân đã không thành, dù người bạn gái đã để lại trong lòng chàng lính trẻ nhiều tình cảm sâu đậm: “Anh chẳng có chi để làm quà/Chỉ có chiếc lược nhỏ đuya-ra/Chiếc lược bình thường nhưng vô giá/Lược làm bằng xác bọn con ma/Quà anh rất nhỏ nhưng em nhé/Chân thật lòng anh chẳng màu mè/Tặng em mỗi khi em chải tóc/Luôn nhớ đến anh vững lời thề” (Quà người lính; Thái Nguyên-1966).
Sau hai năm là lính cao xạ, Nguyễn Chí Thái được cử đi học lái xe, rồi trở thành lính lái xe Trường Sơn thuộc Tiểu đoàn 60, Sư đoàn 471, Binh trạm 37 (Đoàn 559). Trước ngày vào Nam, Nguyễn Chí Thái lại một lần dang dở với cô người yêu Lê Thị Mùi ở gần trận địa (thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, Đông Anh, Hà Nội). Ngày tiễn anh lên đường vào Nam đánh Mỹ, Mùi đã khóc rất nhiều và tặng người yêu chiếc khăn màu hồng thêu tên hai người cùng một quyển sổ ghi lời hẹn ước, trong đó có những lời hứa sẽ chờ đợi người yêu trở về trong ngày đất nước thống nhất. Chàng lính trẻ đã trải lòng mình trong ngày chia tay: “Sáng nay em tiễn anh đi/Cầm tay không biết nói gì với nhau/Khăn hồng, nước mắt em lau/Tặng anh, em gửi mấy lời thiết tha/Anh đi đánh giặc nơi xa/Ở quê em đợi, mãi là của anh” (Vào Nam, tháng 5-1968).
Trở thành lính lái xe, kỷ niệm về những chuyến chở hàng vượt Trường Sơn ghi trong nhật ký luôn mang tinh thần lạc quan, coi thường gian khổ. Có một kỷ niệm đáng nhớ khi ông cùng đoàn xe vượt dòng sông Bạc của nước bạn Lào. Bước vào mùa mưa, do xe không chạy được, ta nghĩ ra sáng kiến cho gạo vào túi ni lông rồi khâu lại, sau đó kết thành bè, thả trôi theo dòng nước chảy, mỗi trạm đều có người đón nhận hàng. “Kiêu hãnh, kiên cường không ngừng chảy/Bè gạo theo sông nặng nghĩa đầy/Hai tiếng miền Nam sao tha thiết/Vất vả gian nan bom xới cày”. (Sông Bạc, 1969).
Ông kể, lính lái xe Trường Sơn thường chỉ chạy đêm và đi bằng đèn gầm, khi đèn gầm bị hỏng thì chạy bằng đèn hậu, một loại đèn quả nhót được che bằng ống bơ. Để đèn không quá sáng, cánh tài xế dùng kem đánh răng và bùn đất bôi vào để đèn chỉ sáng mờ mờ, tránh không để máy bay địch phát hiện, đánh phá.
Nguyễn Chí Thái bảo rằng, ông không có tâm hồn lãng mạn như thi sĩ Phạm Tiến Duật, tác giả của “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, bởi vậy “xe không kính” trong nhật ký của ông được hiện lên qua những dòng thơ mộc mạc: “Xe có kính ở đây không được/Bởi chúng tôi phải thức chạy đêm/Chiến trường đâu có bình yên/Đường đi đèo núi muôn phần hiểm nguy”. (Xe Trường Sơn, năm 1972).
Gian khổ là thế nhưng những dòng nhật ký bằng thơ vẫn thường bật lên trong tâm hồn chàng trai Hà Nội, nhất là tại những thời khắc đáng nhớ như khi qua một ngọn đèo dựng đứng, sau một đêm vận chuyển hàng tới binh trạm, hoặc trong đêm Giao thừa vẳng lời thơ chúc Tết của Bác Hồ… Sau này, khi về phục viên (năm 1975), Nguyễn Chí Thái vẫn tiếp tục duy trì thói quen trải lòng mình bằng những vần thơ. Ông bảo, cảm hứng cứ tiếp tục trào dâng và ông thấy mình cần tiếp tục ghi lại, cho dù đó chỉ là những dòng thơ “chân đất xó nhà” như ông tự nhận…



